Nghĩ về hạnh phúc

07/01/201223:02(Xem: 12393)
Nghĩ về hạnh phúc
Nghĩ về hạnh phúc 
nhân ngày Quốc tế hạnh phúc 20.03.2014
Lưu Đình Long
Từ tháng 6-2012, Liên Hiệp Quốc lấy ngày 20-3 làm ngày Quốc tế hạnh phúc. Năm 2014, lần đầu tiên ngày Quốc tế hạnh phúc được tổ chức ở Việt Nam với chủ đề "Yêu thương & chia sẻ".

Hạnh phúc là điều ai cũng hướng tới, tìm kiếm, mỏi mong có được. Và, hạnh phúc, đối với mỗi người hoàn toàn không giống nhau, cách gọi tên hạnh phúc khác nhau do hoàn cảnh sống sai biệt và do cách nhìn về cuộc sống không như nhau.

Có người có cơm no, áo lành là hạnh phúc vô bờ, người khác là phải cơm ngon, mặc đẹp thì mới được gọi là hạnh phúc.

Có người sống là hạnh phúc, người khác chết có khi hạnh phúc hơn, dẫu làm người ai cũng mong được sống, sợ sự chết.

Có người nghĩ rằng giàu có mình sẽ hạnh phúc, nhưng khi giàu có thì bất hạnh lại dồn dập, vì cái giàu ấy khiến anh em mất hòa khí, con cái sống buông lơi, vợ chồng không còn cảm thông nhau được nữa.

Có người cho rằng được yêu một người vừa xinh đẹp, vừa giỏi giang là điều may mắn, nhưng không ngờ chính vì sự xinh đẹp, giỏi giang ấy đã khiến cho bản thân... lép vế, trở thành người bị vợ đì, coi thường, không còn thấy hạnh phúc...

Người xưa nói, ở trong chăn mới biết chăn có rận. Đôi khi ta nhìn thực thể mà mình chưa có, tự nghĩ nếu có rồi chắc sẽ hạnh phúc lắm đây. Nhưng, nghe người có rồi giãi bày mới thấy họ bất hạnh hơn mình. Oái ăm của cuộc sống là như thế, có cái người này muốn lại được sắp cho người kia và ngược lại, khiến hai người nhìn nhau, thèm thuồng điều người kia đang có.

Chính vì thế mà có câu: cá trong lờ đỏ hoe con mắt, cá ngoài lờ ngúc ngoắc muốn vô. Và, chính vì thế mà có ông vua vì nghiệp đế vương của mình phải gánh gồng mà thầm ao ước: "Giá trẫm được một ngày làm người nông dân tự tại, đi làm về, mệt nghỉ, đói ăn thì hạnh phúc biết mấy...". Nhưng, chắc cả khối người chân lấm tay bùn ngoài thành xa xôi kia cũng đang ước mình được làm vua thiên hạ, dẫu chỉ một ngày thì chết cũng mãn nguyện.

Tất nhiên, cuộc sống con người đã được sắp xếp, dắt dẫn (do nghiệp, không phải tạo hóa nào nhúng tay).Nghiệp do chính người đó tạo, theo quy luật gieo nhân gì, gặt quả nấy. Khi quả đã trổ rồi thì phải hoan hỷ, chấp nhận và luôn có ý hướng sống tốt đẹp lên, thanh lương với mình, với đời, với người thì sẽ nhẹ tênh, dù có là vua hay dân. Khi mình đang là "vai diễn nào đó" thì hãy diễn thật tốt vai trò của mình, khi ấy mình sẽ bình yên, hạnh phúc.

Hạnh phúc không thể có khi anh cứ đứng núi này trông núi nọ. Đạo Phật gọi là không an trú. Những ước nguyện, nếu có thì cũng đừng nằm ngoài khả năng thực tế, có thể làm được thì mới nghĩ tới, hướng về, cố gắng để làm. Và quá trình làm cũng là lúc mình cảm thấy hạnh phúc, an lạc, chứ không phải cố ép xác để đạt được mục tiêu. Nếu không thì sẽ thất vọng, gọi tên thất bại rồi chán, chê chính mình, bế tắc đến mức không còn thiết sống.

Còn nếu có đạt được mà trầy vi tróc vảy, trên đường đi ê chề đau điếng thì cái ta gọi là hạnh phúc ấy thực ra là một mục tiêu xa vời đã bóp chết nhiều bình an trong ta, trong cả một quá trình chinh phục. Chính vì thế, có vị thiền sư nhắc mình rằng, hạnh phúc là con đường, là mỗi bước chân thong dong đi tới mục tiêu (tốt đẹp phía trước) chứ không phải là chiến đấu, chạy đến nó một cách bán sống bán chết.

Có câu nói vui cho chuyện này, rằng, cố gắng nhưng đừng có cố quá thì dễ... quá cố lắm nghen. Câu ấy nếu nhìn với mắt trí tuệ của nhà Phật thì cũng không khác thiền ngữ, nhắc mình hãy biết lượng sức mình. Đừng có lấy thước đo hạnh phúc, thành công của người khác rồi làm chuẩn cho mình, trong khi ta không hề có những điều kiện như họ.

Vậy nên, hãy gọi tên hạnh phúc cho mình, bằng cách nhận diện được bản thân, hoàn cảnh. Ông bà, cha mẹ mình, thế hệ trước ước ao đất nước ngớt chiến tranh, độc lập tự do là hạnh phúc. Thời gian trôi, vấn đề áo cơm trong ngày không tiếng súng là một ước mong mang tên hạnh phúc. Khi đã tạm đủ đầy đây đó (dẫu biết dân nghèo ở đâu cũng có, ở mình còn nhiều) thì việc số đông người thừa mứa uống ăn, dư dả chất bổ cũng khiến nỗi khổ theo về, dư cân và bệnh tật...Cứ thế, cái may của cuộc sống là khi mình được đủ đầy, nhưng đôi khi dư dả lại chính là cái hại. Thôi thì, cứ sống sao cho mình "bớt muốn và biết đủ" để không hại người, hại mình là hạnh phúc. Bớt muốn, biết đủ thì mới rộng rãi lòng mà sẻ chia, dù ở hoàn cảnh nào.

Và nhớ là mình và người có mối liên hệ mật thiết, nếu hại mình đừng chỉ nghĩ mình bị hại không mà kéo theo đó là những hệ lụy tiêu cực mà người khác phải chịu, phải giải quyết. Và, tặng cho người đừng nghĩ mình mất đi, mà là mình đang gieo nụ cười, bỏ vô ngân hàng phước đức, thấy niềm hạnh phúc được sẻ chia của họ mà hoan hỷ. Thậm chí thấy niềm hoan hỷ của người đi trao tặng mà tùy hỷ (thay vì ganh ghét) thì mình cũng thấy hạnh phúc hiện diện y chang người bỏ công sức, tiền bạc đi cho vậy đó.

Nghĩ thế để nhẹ lòng, cố gắng đừng nhìn mọi thứ thành u ám, mà dẫu mọi thứ có u ám đi chăng nữa thì cũng đừng có xem đó là điều gì đó đáng chán, hãy thắp lửa, thay vì nguyền rủa bóng đêm, trở lại quán chiếu để xin lỗi chính mình vì đã gieo nhân chi đó mới sanh vào nơi mà nhìn đâu cũng... thấy ghê, thấy gớm. Cái lý ấy là lý nhân quả, là điều tất nhiên để mà à, ừ, trở lại làm mình mới lên theo hướng tích cực, đừng vùi mình xuống sâu hơn giữa ngập ngụa buồn thương nhân thế...
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 16752)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 14359)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16053)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12069)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 10934)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 11516)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 7395)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 8602)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.
14/02/2021(Xem: 7921)
Ta hãy tự thoát ra khỏi thân mình hiện tại mà trở về lúc ta mới được sanh ra. Trong phút giây đặc biệt đó ta là gì? Ta vừa được chào đời, được vỗ mông để bật tiếng khóc là phổi ta hoạt động, mọi chất nhớt trong miệng được lấy ra và không khí vào buồng phổi: ta chào đời. Thân ta lúc đó là do 5 uẩn kết tạo từ hư không, 5 uẩn do duyên mà hội tụ. Cơ cấu của thân thể ta là 7 đại đất nước gió lửa không kiến thức. Cơ thể ta mở ra 6 cổng (căn) để nhập vào từ ngoài là 6 trần để rồi tạo ra 6 thức.
14/02/2021(Xem: 10398)
Nhân đọc bài về tuổi già của Đỗ Hồng Ngọc Bác sĩ y khoa, tôi mỉm cười. Mình cũng thuộc tuổi già rồi đấy!! Các bạn mình cũng dùng chữ ACCC= ăn chơi chờ chết vì vượt qua ngưỡng tuổi 70 rồi. Vậy theo BS Ngọc là làm như vậy cũng thực tế đó nhưng có thật là hạnh phúc tuổi già không? Bạn có đủ hết, con cái thì hết lo cho chúng được nữa rồi, chúng tự lo lấy chúng. Tiền bạc thì hết lo được nữa rồi có bấy nhiêu thì hưởng bấy nhiêu.