Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Lên Núi Thăm Thầy

11/04/201119:49(Xem: 2323)
Lên Núi Thăm Thầy

LÊN NÚI THĂM THẦY

Tâm Diệu & Tâm Linh


blankChúng tôi đến thăm Thầy vào một buổi chiều cuối tháng Tư. Trời Cali bắt đầu vào Hạ nhưng vẫn còn cái se lạnh của mùa Xuân chưa hết. Thầy ra cửa đón chúng tôi tại một ngôi chùa ngập bóng cây ở thành phố Pomona. Mới cách đây hơn một tiếng đồng hồ, chúng tôi còn hòa vào dòng xe tấp nập trên các xa lộ mà giờ như lạc vào một khung cảnh yên bình, ít xe cộ và người qua lại. Cảnh chùa chiều thứ Sáu thật yên tĩnh, không một bóng người, chỉ nghe thấy tiếng lá rì rào.

Mặc dầu được biết Thầy qua các sách trước tác, qua các tác phẩm văn học nghệ thuật và nhất là qua các bức hình Thầy với những bước chân trần đi khất thực trên các nẻo đường cố kinh, nhưng đây là lần đầu tiên chúng tôi được diện kiến Thầy. Với thân hình mảnh khảnh, với khuôn mặt quắc thước, đôi lông mày trắng cong, Thầy như dáng dấp của một ông Tiên trên núi. Mà Thầy ở trên núi thật, Thầy ở xa lắm, bên kia nửa vòng trái đất. Thầy đã xuống núi vân du và đến đây thăm một số đệ tử và một người bạn đồng môn trụ trì ngôi chùa này. Thầy chính là Tỳ kheo Giới Đức, Sư trưởng Huyền Không Sơn Thượng.

blankHuyền Không Sơn Thượng tọa lạc giữa lưng chừng núi Chầm thuộc sơn phận xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, cách trung tâm thành phố Huế chừng 14 cây số về hướng Tây. Thầy cho biết nguyên thủy chùa được dựng bằng tre nứa năm 1973 ở phía Bắc đèo Hải Vân Lăng Cô, Phú Lộc. Đến cuối năm 1978, chùa được di dời về vùng núi này. Năm 1989 thầy được Sở Lâm nghiệp tỉnh Thừa Thiên cấp cho 54 mẫu đất trống đồi trọc để trồng rừng phủ cây xanh. Sau hơn 20 năm dài phá đất trồng cây từ một vùng đồi núi hoang sơ, khô cằn, chỉ toàn là sim mua, tràm chổi và cỏ dại, bây giờ, rừng thông đã khép tán, màu xanh bạt ngàn, tàn cao bóng lớn – tạo nên một môi trường thiên nhiên mát mẻ và trong lành.

blankCó một điểm đặc biệt, theo thầy cho biết chùa và các kiến trúc phụ khác xung quanh không giống chùa Trung Hoa hay chùa Miên, Thái, Lào; cũng không giống kiến trúc cung đình Huế, mà là một ngôi chùa hoàn toàn Việt, biến thể từ một ngôi nhà rường xứ Huế với phong cách kiến trúc và chất liệu mà chủ yếu là gỗ và ngói vảy cá truyền thống để giữ dáng dấp hồn Huế và hồn Việt, hoà quyện với môi trường xanh thiên nhiên. Tất cả các am thất, cốc liêu trong quần thể chùa đều có kiến trúc đồng bộ với chùa chính và đều là kiến trúc mở để thiên nhiên, cây, cỏ, hoa lá, ánh sáng tràn vào nhà, vào cốc, vào am.

Được biết, Thầy là Thượng tọa Giới Đức có bút hiệu là Minh Đức Triều Tâm Ảnh mà giới văn học nghệ thuật dường như ai cũng biết. Thầy là một nhà thơ, nhà văn rất nổi tiếng, những tác phẩm của thầy không những có giá trị trong giới Phật học trong và ngoài nước mà còn đóng góp không nhỏ cho nền văn chương, văn học của Việt Nam đương đại. Ngoài ra, Thầy còn am tường hội hoạ và trang trí mỹ thuật và là một cao thủ cờ tướng từng đánh bại một số kì thủ quốc gia. Đồng thời Thầy cũng là một trong những người nổi tiếng về nghệ thuật thư pháp tại Việt Nam những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21.

Rừng Thiền Huyền Không Sơn Thượng” nay được gọi như thế là một không gian biệt lập yên tĩnh nơi núi rừng dành cho các hành giả tu tập thiền định và thiền quán. Đây là một dạng trường Thiền rất mới mẻ ở Việt Nam mà hình như chỉ có ở miền Bắc Thái Lan và Miến Điện.

blankQuả thật là may mắn và hạnh phúc khi được hầu chuyện với Thầy bên tách trà đậm hương vị thiền, chúng tôi đã vấn an sức khỏe thầy, hỏi thăm Thầy về trường Thiền bên nớ và kể chuyện Thầy nghe đôi chút về Phật Giáo bên ni và với chuyến viếng thăm thầy này còn mang một ý nghĩa sâu xa là cảm tạ Thầy đã đem đến cho Thư Viện Hoa Sen, cho độc giả khắp năm châu những lời hay ý đẹp, những lời giảng dạy sâu sắc qua các kinh sách dịch cũng như các trước tác của Thầy. Thầy không những là Pháp bảo mà còn là Quốc bảo của Việt Nam như một nhà văn đã nhận định. Cũng trong dịp này thầy đã trao tặng Thư Viện Hoa Sen bức tranh thư pháp với bốn câu thơ đầy thiền vị, xin cảm tạ Thầy:

Hoa ươm mùi đạo vị
Sen ngát mạn đà hương
Thư kinh trăng giọt ngọc
Viện bối phụng văn chương

Pomona cuối tháng Tư 2014

Tâm Diệu & Tâm Linh

Quý độc giả có thể vào website để đọc một số tác phẩm của Thầy đã được đưa lên mạng.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/05/201102:04(Xem: 3294)
Không biết trong đầu óc chúng ta có một trung tâm thần kinh của sự công bằng hay không, nhưng mọi người bình thường đều yêu thích, đam mê sự công bằng. Ai trong chúng ta cũng thấy lịch sử nhân loại là một vận động đi tìm và tiến đến sự công bằng. Những cuộc cải cách, những cuộc cách mạng, thậm chí những cuộc chiến tranh cho đến những thiết chế chính trị, kinh tế, xã hội đều để tiến bộ về phía công bằng. Pháp luật, kinh tế, xã hội, chính trị được xem là tiến bộ hơn khi chúng tạo được nhiều công bằng hơn.
29/05/201119:35(Xem: 2688)
Bất cứ trong một đoàn thể nào cũng không tránh khỏi chuyện thị phi; nếu trong môi trường thị phi mà vẫn giữ được bình tĩnh, hài hòa, đây mới thật sự là người trưởng thành.
28/05/201120:05(Xem: 1541)
Từ khi ra thăm bốn cửa thành, Thái tử Tất Đạt Đa đã cảm nhận những nỗi thiết tha thống khổ của nhân loại khiến Ngài quyết tâm đi tìm một chân lý để cứu giúp chúng sinh còn đang lặng hụp trong biển đời sinh tử trầm luân.
28/05/201102:53(Xem: 2604)
Chữ niệm nghĩa là nhớ. Chữ Hán viết phần trên là chữ kim, nghĩa là nay, phần dưới chữ tâm, nghĩa là lòng mình. Niệm là điều ta đang nhớ tới, đang nghĩ tới. Mà điều ta nhớ và nghĩ có thể là tà, có thể là chính, vì vậy nên có tà niệm và chánh niệm.
26/05/201110:28(Xem: 4655)
Nhận lời mời của quý vị, hôm nay có duyên cùng quý vị bàn về tam quy y trong Phật pháp tại Bờ biển Vàng (Golden coast) Queensland- Australia. Ðối với Phật pháp đây là đề tài rất quan trọng, là chỗ nhập môn tu học của chúng ta. Trước khi nói đến tam quy, đầu tiên phải có nhận thức chính xác về Phật pháp.
21/05/201120:06(Xem: 2624)
Ý tưởng về bồ đề tâm thật không thể nghĩ bàn! Nó khiến cho tất cả những công việc nào không liên quan đến việc làm lợi lạc cho chúng sanh trở nên buồn chán và bất toại nguyện. Ta thật sự sẽ không còn hứng thú hay thưởng thức được đời sống của mình, ngoại trừ công việc đầy ý nghĩa này. Tất cả mọi thứ khác sẽ trở nên vô nghĩa, trống rỗng và không có thực chất.
20/05/201115:47(Xem: 1878)
Ta cần có những thiện hạnh để chấm dứt những dục vọng vô độ và việc coi mình là quan trọng; cách hành xử tránh điều độc hại như thuốc độc...
19/05/201100:05(Xem: 9482)
Hầu như ai đến phố Bolsa cũng từng thấy một khất sĩ mà nhiều người gọi là “ông sư ở Phước Lộc Thọ.” Ông mặc bộ áo cà sa vàng, khoảng 40 tuổi, tay ôm bình bát, mắt nhắm nghiền như đang thiền định. Ông đứng từ sáng đến chiều, ngày này qua ngày nọ bất kể thời tiết nóng hay lạnh. Phố Bolsa sáng sáng thường có các nhà sư đi khất thực bên ngoài những cửa tiệm, đặc biệt trong khu chợ ABC ở góc Bolsa và Magnolia. Họ xuất hiện trong vài ngày hoặc vài tuần, xong biến mất như đã hoàn tất một giai đoạn trên con đường tu tập.
18/05/201108:59(Xem: 14659)
Con được biết - không chắc đúng không - hôm nay 28-4, là ngày Sinh Nhật Sư Phụ tròn 88 tuổi nên con viết vội đôi dòng kính chúc Sư Phụ luôn Phước Thọ tăng long, bách niên thọ thế để hàng đại chúng Bảo Vương của chúng con nói riêng và Giáo hội nói chung luôn có được bóng mát chỡ che tinh thần và trí tuệ của một trong số rất ít còn lại hàng đại lão hòa thượng của PGVN. Riêng con vẫn còn đó một đại tự điển sống về Phật học tinh hoa cũng như về lịch sữ Việt Nam thời cận đại.
15/05/201119:41(Xem: 1678)
Nhân quả đồng thời được nói một cách cô đọng trong kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm… và rải rác trong các kinh điển Đại thừa. Có lẽ người đầu tiên dùng thành ngữ “nhân quả đồng thời” là Đại sư Trí Khải (thế kỷ thứ 6) trong Pháp Hoa Huyền Nghĩavà trong các tác phẩm Thiên Thai tông của ngài, y cứ trên kinh Pháp Hoa. Thành ngữ này cũng là một giáo lý chính yếu của Hoa Nghiêm tông vào thế kỷ thứ 7. Nói một cách vắn tắt và đơn giản, nhân quả đồng thời là quả giác ngộ, quả Phật vốn đã nằm nơi nhân tu hành để đạt đến giác ngộ, để thành Phật. Nhân của thành Phật là “nhân địa pháp hạnh của Như Lai” được nói trong kinhViên Giác: