BỒ ĐỀ TÂM VÀ CHẤP THỦ

28/10/201004:25(Xem: 14036)
BỒ ĐỀ TÂM VÀ CHẤP THỦ

BỒ ĐỀ TÂM VÀ CHẤP THỦ
Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa đời thứ XII khai thị

ducphapvuong-001-contentCórất nhiều loại cảm xúc khác nhau, và chúng đều là sựphóng chiếu của tâm. Các cảm xúc vốn không tách rời khỏitâm, nhưng vì chúng ta chưa nhận được bản chất tâm, nênchúng ta vẫn coi chúng như những thể tách rời và khác biệt.Tâm chúng ta cứ hết sân hận, ganh tị rồi lại mừng vui,phấn khích - đủ mọi cung bậc thăng trầm của cảm xúc.Thực sự chúng ta chưa hiểu được mình đang trải nghiệmnhững gì, ta thực sự là ai, ai đang thực sự sân giận hayvui vẻ, ai đang nản lòng hoặc tràn trề hứng khởi: điềugì đang thực sự diễn ra? Trên thực tế, chúng ta không cólấy một ý niệm về “bản thân”, mặc dù chúng ta vẫnnói về “tôi” hay “chúng ta”, và sử dụng những nhãnhiệu được gán cho mình. Tôi cho rằng cho đến giờ chúngta chưa thực sự hiểu gì về chính bản thân. Vì thế màgiờ đây chúng ta cần tìm hiểu, khám phá bản thân mình,điều này thật là thú vị! Đức Phật dạy rằng: “Luânhồi không có khởi đầu”, vậy là từ vô thủy của luânhồi khổ đau cho tới nay, chúng ta đã sống mà không hề biếtgì về mình? Thật nực cười phải không? Thực sự, tôi thấyđây là một chủ đề thú vị để chia sẻ: Điều gì đãxảy đến với bản thân ta, và ta cần làm gì từ giờ phútnày trở đi? Mọi thứ hoàn toàn phụ thuộc vào tâm ĐứcPhật dạy rằng tâm chúng ta rất hoang dại, vì chúng ta khôngthể kiểm soát được nó. Các hoạt động dù tốt hay xấuđều là sự phóng chiếu của tâm. Tôn chỉ của Phật giáoNguyên Thủy là “tránh hết thảy ác”, còn của Phật giáoĐại thừa là “làm hết thảy lành”. Cả hai thừa đềucùng một tôn chỉ: mọi thứ hoàn toàn tùy thuộc vào tâm- vì tâm là năng lực duy nhất tạo nên hoạt động thiệnhay ác.

Thân,khẩu chúng ta chỉ là phương tiện trợ giúp tâm tạo nênhoạt động, còn tâm mới là nhân tố quyết định tạo nênhoạt động đó. Nếu tâm không tác ý cho một hoạt độngcụ thể nào, thì chắc chắn thân, khẩu sẽ không biểu hiệnhoạt động đó. Rất nhiều tín ngưỡng không thuộc ĐạoPhật cũng nhấn mạnh tôn chỉ “bất bạo động”. Tuy nhiênĐỘNG CƠ (tâm tác ý) của Đạo Phật đối với tôn chỉnày rộng lớn hơn. Đây là một điểm khác biệt rất tinhtế giữa Phật giáo và các tôn giáo khác. Tất cả các tínngưỡng tâm linh đều dạy mọi người không được làm ác,và đều khuyến khích hành thiện. Bởi vì chưa thực chứngđược bản chất của Tâm nên không ai trong chúng ta, ngay cảmột số hành giả tâm linh, có thể thực hành được điềunày một cách toàn vẹn. Vì thế mà giờ đây, dù có phảilà Phật tử hay không, bạn đều cần tìm cách đối trịvà chuyển hóa tâm mình. Vì chính tâm vô minh của chúng tađã quấy nhiễu hết thảy chúng sinh từ vô thủy tới nay.Rất nhiều người trong số chúng ta đã tìm cách đào luyệntâm theo những phương cách khác nhau, song chúng ta đều khôngthực sự thành công.

Mặcdù có nhiều cách thức đào luyện tâm, nhưng thực tế, tâmchỉ có thể thực sự được rèn luyện bởi chính nó, chứkhông phải nhờ bất kỳ yếu tố bên ngoài nào khác. Đôikhi, chúng ta cố gắng hiểu được tâm mình, đôi khi chúngta muốn đè nén tâm. Tôi cho rằng đây không phải là nhữngbiện pháp tích cực, thiện xảo để chuyển hóa tâm. Hầuhết các kỹ năng rèn luyện tâm đều không thực sự thànhcông vì tâm phức tạp như chính chúng ta vậy. Nếu bối rối,tán loạn, tâm sẽ dẫn dắt ta trôi lăn trong cõi luân hồi.Nếu định tĩnh, an lạc, tâm có thể đưa ta tới Niết Bàngiải thoát. Vì thế, tâm chúng ta có đủ công dụng thiệnvà công dụng bất thiện. Đó là lí do tại sao Đức Phậtdạy rằng tâm cần phải được điều phục.

Cầnphải liên tục quán chiếu tâm.Phương pháp tu tập phát triểnBồ đề tâm là cách rèn luyện và mở rộng tâm mình. Tâmchúng ta thường hẹp hòi ích kỷ, tới nỗi không còn chỗdành cho người khác. Chúng ta chỉ có thể nghĩ về chính mìnhvà những người thân của mình, như gia đình, bạn bè vàcon cái. Nhưng điều này cũng chỉ diễn ra với một thờigian ngắn ngủi và kèm theo rất nhiều điều kiện. Đôi lúc,chúng ta không thích người khác đeo bám lấy mình, nhờ vảmình. Có lúc chúng ta lại thích được yêu thương, đượcquan tâm chăm sóc, có lúc chúng ta lại muốn ở một mình đểđược yên thân, phải vậy không? Nếu mong muốn của mìnhđược thỏa mãn, chúng ta sẽ phần nào cảm thấy dễ chịu.Ít nhất thì điều này cũng đúng với tôi! Các bạn khôngcảm thấy như vậy sao? Có thể chưa ai trong số các bạn quánsát về điều đó, nhưng quả thực tâm của ta hoạt độngtheo cơ chế như vậy.

Tôinghĩ rằng tâm không thích khi bị kiểm soát và bị ép buộc.Nhưng tâm cần được quán chiếu một cách liên tục, trongsáng không chút ảo tưởng và hư ngụy nào! Chỉ cách đómới đưa chúng ta về bản chất tự nhiên của tâm (NiếtBàn) - trạng thái hoàn toàn thư giãn, an lạc và trải rộngmuôn nơi.

Tôiđã nói khá nhiều về phương pháp chuyển hóa tâm. Vì tâmchúng ta vốn hẹp hòi ích kỷ nên cần phải tu tập trưởngdưỡng Bồ Đề Tâm hay “Tâm Giác Ngộ”. Bằng cách trưởngdưỡng các phẩm hạnh về tình yêu thương và lòng bi mẫn,không căm thù, sân giận hoặc ganh ghét, bạn sẽ có thể trảirộng tâm mình. Trong lúc tu tập phát triển Bồ Đề Tâm, bạnnên quán chiếu một cách logic rằng tất cả chúng ta đềulà anh chị em của nhau, bởi vậy cần quan tâm chăm sóc nhau,vì tất cả chúng ta đều đau khổ như nhau do chưa thực chứngđược bản chất tâm của chính mình. Tất cả chúng ta đềuquay cuồng và điên dại như nhau, vì thế tại sao không giúpđỡ và phụng sự những người khác cũng đang trong tình trạngđau khổ tột bậc như mình? Đây là một loại lý thuyếtlogic bên ngoài mà chúng ta có thể quán chiếu, và là mộttrong những logic chính yếu mà tất cả chúng ta đều có thểquán xét.

Vạnpháp là hư ảo

Logicsiêu việt hay logic nội chứng liên quan đến quan điểm triếthọc cho rằng vạn pháp đều không tồn tại như nó xuấthiện: vạn pháp đều hư ảo. Thế giới hư ảo dường nhưrất bền chắc đối với chúng ta, nhưng nó không thực sựtồn tại. Tuy nhiên, chúng ta vẫn bị hấp dẫn bởi thế giớinày, chúng ta bị cuốn trôi tới điên đảo bởi những thứhư vọng đó. Chúng ta cuồng loạn bởi những hấp dẫn bênngoài liên tục khuấy đảo tâm ta, và kết cục chẳng cógì tồn tại, đó là kết quả của thế giới này. Chúng tađang đơn thuần rượt đuổi theo những huyễn ảo như cầuvồng. Lẽ đương nhiên là tới đây chúng ta trở nên kiệtquệ. Bạn có thể nói đó là một trong những đau khổ chínhmà chúng ta đang phải trải qua.

Đólà lý do tại sao chúng ta nên trưởng dưỡng lòng từ bi tớitất cả chúng sinh, bởi vì chúng ta đã nhận ra được sựthật này một cách có trí tuệ. Có hàng triệu triệu ngườivẫn hoàn toàn vô minh, họ không có dù chỉ một chút tri thứcít ỏi về điều này. Vì thế, chúng ta là số người maymắn ít ỏi có đủ phúc duyên thấy được thực tại củathế giới này.

Đólà lý do tại sao cần phải có hạnh nguyện Bồ Tát cứu độ,phụng sự hết thảy hữu tình. Đó là một dạng logic rấtsâu sắc, và là một lý do tốt để bạn trưởng dưỡng Bồđề tâm. Bạn biết rằng còn triệu triệu chúng sinh đangsa vào cạm bẫy và bám chấp vào thế giới hư ảo, khôngnhận ra thế giới vô thường. Đây là căn nguyên dẫn đếnkhổ đau. Như vậy bạn là người đang nắm được cơ hộihy hữu để thực hành pháp chấm dứt khổ đau. Điều nàycần trở thành động cơ khuyến khích bạn tinh tấn thựchành với mong nguyện, “Tôi phải tu tập một cách chân thành,không bỏ phí một chút thời gian quý giá nào trong cuộc đờinày, để có thể cứu độ chúng sinh đang thực sự khổ đaumà không hề nhận thức được”. Những động cơ như thếnày phải luôn hiện diện trong tâm bạn. Đó là cái đượcgọi là động cơ vị tha hay “Tâm Giác Ngộ”.

Mọihoạt động thế tục trong đời sống đều bắt nguồn từsự chấp thủ mạnh mẽ của chúng ta.

Chừngnào còn bám chấp vào thế giới này thì chừng đó chúng takhông thể giải thoát. Chúng ta bám chấp vào những vật đẹpđẽ hay xấu xí, vào kẻ thù hay bằng hữu. Bất kỳ hoạtđộng thế tục nào được làm đều bắt nguồn từ sự chấpthủ mạnh mẽ của chúng ta. Chúng ta nói: “Như vậy này!Điều này phải được làm thế này còn điều nọ phải đượclàm thế nọ.” Chúng ta đưa ra các yêu cầu đòi hỏi thuậntheo sự ham muốn chấp thủ của chính mình. Đó thực sựlà điểm xuất phát của mọi sai lầm mà từ đó ta kinh quavô số kinh nghiệm đầy khổ đau. Chẳng hạn như, bạn bámchấp vào ý niệm ai đó là kẻ thù của mình, rồi bạn thấyrất khó chịu và bực mình mỗi khi nhìn thấy người đó,hay chỉ cần nghe thấy tên và giọng nói của người đó.Đây là điều mà tôi đã nói lúc trước về sự huyễn ảocủa những thứ mà chúng ta đang theo đuổi. Khi bạn có mộtngười bạn tuyệt vời thì bạn sẽ rất ích kỷ muốn ngườita thuộc về mình mãi mãi, không muốn một ai khác kết giaovới người đó, thậm chí không ai được chạm vào ngườihay cười với anh ta, cô ta. Đây là một kiểu chấp thủ màbạn thường có. Sau này, khi bạn phát hiện ra một ai đóđã kết thân với anh ta hơn cả bạn, thử hình dung xem bạnsẽ đau khổ như thế nào. Sự đau đớn này là sản phẩmtừ tâm chấp thủ của bạn tạo ra chứ không phải do bấtkỳ ai khác.

Tấtcả chúng ta, không ai muốn loại đau khổ này! Vì thế, chúngta cần loại bỏ chấp thủ. Để làm được điều này, bạncần nhận ra bản chất chân thật của vạn pháp. Những xúccảm như "thích" hay "không thích" không tự có bản chất, màchỉ là sự sáng tạo hay sự phóng chiếu của tâm bạn. Điềuđó có nghĩa rằng thế giới này được tạo thành từ tâmcủa bạn, và nó là một thế giới huyễn ảo. Ví như mộtngười bạn rất hấp dẫn với bạn, nhưng anh ta lại khônghề hấp dẫn với người khác, nên sự hấp dẫn này chỉlà ảo tưởng, không có bản chất. Bởi vì bạn không nhậnra đó là ảo tưởng hay sự phóng chiếu của tâm, nên bạncảm thấy ngây ngất si mê truớc người đó. Đến một lúcnào đó, bạn sẽ cảm thấy một cái gì bất ổn, và giaokết với người kia là một sai lầm. Lúc đó, theo thói thường,bạn sẽ than thở, trách móc, đổ lỗi cho người bạn củamình. Nhưng thử nhìn lại xem, trước đó ai là người đầutiên đã hết sức bám chấp vào “hương vị ngọt ngào”của mối quan hệ này? Chính sự chấp thủ đã khiến bạnbám chấp vào sự bền chắc và vị ngọt của tình bạn đó.Cho nên chính sự chấp thủ của bạn mới đáng trách. Chotới nay thì sự chấp thủ và ảo tưởng vẫn hòa hợp vớinhau một cách đầy sáng tạo. Nhưng trên thực tế mọi việckhông hẳn là như vậy. Vì thế, qua trí tuệ của bạn vềTrung Quán hay Đại Thủ Ấn, và hai chân lý - (chân lý tươngđối và tuyệt đối), bạn sẽ thấu hiểu bản chất hư ảocủa thế giới, và sẽ có thể giảm thiểu những khổ đauđược tạo ra từ chấp thủ. Bạn cần thực hành trưởngdưỡng tình yêu thương và tâm bi mẫn

Tómlại, tôi muốn nói rằng ta không nên chấp vào những tư tưởng,xúc cảm của mình, dù nó tốt hay xấu. Sự bám chấp vàonhững thứ này thực sự là chấp thủ. Tôi không muốn nóirằng chúng ta không nên có lòng từ bi hay thương yêu lẫnnhau. Nếu thế chúng ta sẽ trở thành vô cảm như sỏi đá.Vì thế, xin bạn đừng hiểu lầm khi tôi nói, “Đừng bámchấp vào cảm xúc của mình”. Có rất nhiều người có thểhỏi: “Làm sao tôi có thể yêu thương người khác mà khôngquyến luyến bám chấp?” Tình yêu thương với chấp thủlà tình yêu thương mê lầm, yêu thương không chấp thủ làyêu thương trí tuệ. Như tôi đã nói lúc đầu, bạn cầnphải thực hành trưởng dưỡng tình yêu thương và lòng bimẫn. Tình yêu thương là tinh yếu của giáo lý Đạo Phậtvà cả các tôn giáo khác. Không có gì là sai trái trong tìnhyêu thương, tâm bi mẫn hay sự quan tâm và lòng mến mộ, nhưngphải được thắp sáng bởi trí tuệ không còn chấp thủhay không còn hiểu biết sai lệch. Làm sao hành giả có thểđi trên con đường cao quý của Bồ đề tâm vĩ đại, khitâm hành giả tràn đầy vô minh và hiểu biết lệch lạc vềthế giới mà mình đang sống.

Điềuchúng ta cần tránh là sự bám chấp hay thái độ chấp thủ.Chúng ta thử lấy quan hệ bạn bè để minh họa. Quá nhiềuý nghĩ chấp thủ đối với bạn của mình sẽ đem đến sựđau khổ sau đó. Tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta đều cóít nhiều kinh nghiệm về chuyện này nên tôi không cần nóinhiều. Vì thế, nếu chấp thủ, bạn sẽ kết thúc tình bạncủa mình trong mâu thuẫn và lục đục, không hưởng đượckhoảng thời gian tốt đẹp bên nhau. Đôi khi sự cãi vã cũngchỉ để vui, nhưng đa số trường hợp, nó đều đem lạiđau khổ mà chúng ta không hề muốn. Chính thái độ chấpthủ này đã khiến trái tim bạn nhức nhối, tan nát, dẫnđến bệnh tim mạch. Nếu không chấp thủ, khi đối diệnvới vấn đề rắc rối trong gia đình hay xã hội, bạn sẽtìm ra nhiều giải pháp tốt để giải quyết mọi việc mộtcách bình an. Bạn sẽ tránh được những trải nghiệm đauđớn, sẽ dễ dàng coi những vấn đề rắc rối làm nhữngbài pháp thực tế trong cuộc sống, như những hành giả Phậtpháp thực thụ. Đây là những phương cách giúp bạn cảithiện tâm mình. Sự tiến bộ sẽ được thấy rõ sau vàinăm thực hành phương pháp thực tập đào luyện tâm mộtcách chân chính và đúng đắn Nếu không cải thiện tâm thức,chúng ta sẽ không thể cải thiện được lối sống của mình.

Córất nhiều người nói rằng: “Tôi thích thiền định. Tôiđã thiền định trong nhiều giờ đồng hồ, nhiều tháng trời,nhiều năm ròng”. Nhưng họ vẫn không thể cải thiện đượclối sống của họ. Họ tiếp tục cãi vã, mắng nhiếc, thậmchí đánh nhau thường xuyên với bạn trai hoặc bạn gái củamình. Vì họ đã không hiểu được thực tế - điều gì đangdiễn ra trong cuộc sống và điều gì cần được chấp nhận.Mặc dù tu tập và thiền định rất nhiều năm, song họ đãkhông thể thay đổi được lối sống, chẳng có chút tiếnbộ hay an bình nào trong cuộc sống của họ. Điều này chothấy họ đã không thực sự tập chung vào việc chuyển hóatâm, không tiếp cận được phương pháp đúng đắn giúp họcải thiện tâm. Sự tiến bộ sẽ được thấy rõ sau vàinăm thực hành phương pháp thực tập đào luyện tâm mộtcách chân chính và đúng đắn. Sự thay đổi bên trong sẽmang đến sự thay đổi bên ngoài. Khi sự chuyển hóa bên trongdiễn ra, chúng ta có thể nhận biết được điều này từbên ngoài. Chỉ cần nhìn những dấu hiệu thay đổi ngoàilà chúng ta có thể nhận biết ai đó thực sự đang cải thiện.Và rồi những người hàng xóm, bạn bè và tất cả mọi ngườicũng sẽ để ý tới điều đó và nói rằng, “Anh ta đãtu tập thật tốt. Trước khi thực hành con đường tâm linh,anh
tatừng là một người kinh khủng, nhưng bây giờ anh ta trởnên thật ôn hòa và chẳng bao giờ tranh cãi với bất kỳai? Nhờ công phu tu tập, anh ta thực sự trở thành một ngườitốt, trầm tĩnh và đầy hiểu biết”.

Chúngta không thực hành để mong cầu danh tiếng hay để phô trương,nhưng những dấu hiệu tốt của sự thay đổi vẫn hiển diện.Kinh điển có dạy, các vị Bồ Tát có những phẩm hạnh,dấu hiệu đặc biệt chúng ta có thể nhận biết. Tương tựnhư vậy, thông qua sự chuyển hóa từ bên ngoài, chúng ta cóthể nhận ra một người có thực hành Phật Pháp hay không.Niềm mong ước và lời cầu nguyện chân thành của tôi làhết thảy hữu tình chúng sinh, đặc biệt là những ai códuyên với tôi và Truyền Thừa Drukpa, sẽ biết tinh tấn tutập để có thể mang lại những chuyển đổi tích cực trongcuộc đời mình, sống hòa hợp với người khác và mãi mãian vui trong hạnh phúc.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 14439)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 20448)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17752)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 15190)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 17053)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12927)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11824)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12494)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 8567)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9285)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.