Trà Đạo

20/09/201512:30(Xem: 11059)
Trà Đạo

tra dao

TRÀ ĐẠO

Tạ Thị Ngọc Thảo


Núi là núi, sông là sông

Thiền là một chén trà nồng trên tay

Sau khi thực hành nghi thức thưởng trà với người Nhật, trong ngôi nhà Nhật, trên đất Nhật, khách đinh ninh rằng: Nền tảng xã hội và nhân cách con người Nhật Bản được xây dựng trên bốn nguyên tắc hòa-kính-thanh-tịch (wa-kei-sei-jaku), giá trị cốt lõi của trà đạo.

Hôm nay là ngày rằm, từ sáng sớm bà chủ đã ngỏ lời: “Hây, tối nay kính mời khách thưởng trà ngắm trăng với chúng tôi trong vườn nhà”.

Khi ráng chiều vừa tắt, bà chủ đưa cho khách bộ Yukata (Kymono mặc mùa hè), một đôi tất trắng, một đôi guốc xỏ ngón và một cái hoa vải màu hồng nâu. Thấy khách lúng túng, hiểu ý, bà chủ ân cần hướng dẫn khách sử dụng từng loại. Bà chủ chia sẻ: “Mặc Yukata khó nhất và đẹp nhất là cái đai quanh thắt lưng”. Miệng nói, tay làm, bà giúp khách hoàn thiện cái đai này. Bà lại hồn hậu: “Búi tóc kiểu Nhật cũng không là việc dễ”, rồi đôi tay bà chủ thoăn thoắt, chỉ mươi phút mái tóc của khách đã được búi cao lại còn giắt thêm cái hoa vải màu hồng nâu sau gáy. Khách nghĩ, mình đã tươm tất lắm rồi, thì nghe bà chủ nhắc khéo: “Mặc Yukata đôi chân phụ nữ phải được bọc trong đôi vớ trắng và bước đi với đôi guốc xỏ ngón”. Nghe lời, khách mang vớ, mang guốc rồi thử bước đi; xong, khách thầm nhủ “mang đôi guốc này mà không té là điều kỳ diệuJ”.

 Tự thấy sự chuẩn bị quá kỳ công, khách thưa thốt:“Mỗi lần thưởng trà chúng ta đều thực hiện công đoạn này sao?”. Bà chủ tươi cười: “Hây, kính mình là kính người, kính  người là kính mình, thưa bà”. Câu trả lời của bà chủ,với khách, là bài học vỡ lòng trước khi trải nghiệm trà đạo.

Cùng dự thưởng trà ngắm trăng còn có ba người bạn của bà chủ, tất cả đều là thầy cô giáo, thường đến thưởng trà trong ngôi nhà này. Trà chủ và trà khách đều dung dị, uy nghi trong trang phục Yukata. Dù là bạn lâu năm, thế nhưng khi hai bên gặp nhau, tất cả đều đứng thẳng, đôi bàn tay khép chồng lên nhau rồi cúi đầu chào trang trọng. Khách lại thêm một bài học về chữ “Kính” trong giao tiếp.

Trăng vừa nhú lên khỏi bụi cây bà chủ mời trà khách rời ngôi nhà chính. Ngăn chia giữa nhà chính và khu vườn là một cái cổng nhỏ dựng bằng tre, không có vách. Con đường (roji) trong vườn được định hình bởi những phiến đá (nori-no-ishi) cao-thấp, lớn-nhỏ, tròn-méo, quanh co, bất chợt; khiến người bước phải tập trung, phải chánh niệm. Trong tâm trạng dõi theo bước chân của mình, vô tình, trà khách đã bỏ lại bụi trần bên ngoài cái cổng không vách. Trà khách tự hỏi: “Tại sao lại nhọc công dựng một cái cổng hững hờ không vách?”. Rồi tự trả lời: “Cái cổng không vách ấy là cánh cửa lòng ta, phiền não/an vui; hạnh phúc/bất hạnh; địa ngục/niết bàn,... đều từ đó đến, đi.”

Cây kiểng trong khu vườn cũng không tự nhiên mà xanh mướt chồi non, mà rễ dài chấm đất, mà xao xác lá vàng, mà khô héo tàn tạ. Cảnh vật ấy đang ngầm trao cho trà khách triết lý sanh, lão, bệnh, tử của muôn loài. Đã vậy, trong khu vườn lại có cái hồ. Đêm nay là rằm. Vầng trăng tròn vằng vặc vừa chễm chệ trên mặt nước hồ thu đã bị một cơn gió thổi qua, mặt nước xôn xao, trăng vỡ vụn; sự chễm chệ mới đó đã tan tành! Trà khách vỡ lẽ, không tự nhiên mà có buổi thưởng trà vào đêm trăng, gia chủ đã cố ý vay mượn vầng trăng để chuyển đến trà khách sự vô thường. Khi con người ta ngộ ra sự mong manh của cuộc sống thì, tham-sân-si và lòng kiêu hãnh nhẹ tợ mây trời.

Con đường đá quanh co trong khu vườn dẫn khách đến trà thất (chashitsu) nằm chơ vơ khuất dưới thân cây cổ thụ. Trước cái thất là một cái lu bằng đá (tsukubai) đặt gần sát mặt đất, bên trong chứa đầy nước trong veo. Như một nghi lễ quen thuộc, người trước kẻ sau khiêm cung quỳ xuống múc nước súc miệng, rửa tay- một cách làm sạch thân và tâm của mình trước khi thực hành trà đạo. Toàn bộ vật dụng cá nhân của trà khách đều phải gởi lại bên ngoài cửa trà thất, kể cả cái kiếm (nếu có) - vật bất ly thân của samurai! Quan sát những việc làm đó, khách nghiệm ra rằng: Khi không còn vật ngoài thân, không vướng sở hữu, con người ta tinh khôi như trẻ mới lọt lòng.

Trà thất rộng khoảng 8m2, được dựng lên bởi tranh, tre, nứa, lá; hòa hợp với cảnh sắc thiên nhiên. Điểm tô cho ngôi nhà là những cây đèn gốm đặt ẩn vào cây, vào vách; tạo ra vầng ánh sáng ấm cúng, trang nghiêm. Cái cửa vào trà thất được gia chủ cố ý làm thật thấp, trà khách phải khom lưng mới vào được bên trong. Động tác này, một lần nữa, giúp trà khách vứt bỏ cái tôi (và cái của tôi) để thân tâm được rỗng lặng hoàn toàn. Bên trong trà thất trên vách có một bức thư họa chữ “vô”, một bình hoa và một lư đất đang tỏa hương trầm. Trà khách trang trọng quỳ xuống cúi đầu sát chiếu trước chữ “vô”. Cảnh và vật nơi này đã gieo vào lòng trà khách sự cô tịch, thanh khiết. Phải chăng chén trà là con đò đưa khách về bến hòa-kính-thanh-tịch?

Gia chủ mời trà khách quỳ xuống chiếu, rồi cả chủ và khách đều đặt hai tay sát chiếu cúi đầu chào nhau. Nghi lễ trà đạo đầu tiên là tĩnh tâm theo tư thế thiền Nhật Bản. Tiếng gió vi vu, tiếng lá xào xạc, tiếng côn trùng rỉ rả, quyện với mùi hương trầm huyền hoặc khiến trà thất tôn nghiêm, khiến lòng người siêu thoát.

Gia chủ bắt đầu bày bộ trà cụ phục vụ khách thưởng trà, rồi ân cần đặt trước mặt khách đĩa bánh ngọt (wagashi) có hình thức xinh đẹp và màu sắc tươi thắm. Khi trao và nhận đĩa bánh, chủ và khách lại cúi chào nhau. Tiếp theo gia chủ đổ nước nóng vào trà cụ, vào chén uống trà (chawan) tráng ba vòng, rồi dùng khăn (chakin) lau khô. Khi bắt tay pha trà, gia chủ nghiêng đầu mời khách thưởng bánh. Gia chủ lấy thẻ tre (chashaku) múc bột trà xanh (matcha) từ hộp đựng trà (natsume) thả vào cái chén rồi cẩn thận giằm nhuyễn bột trà. Thể hiện tính tiết kiệm cố hữu của người Nhật bà đã khỏ nhẹ cái thẻ tre trên vành chén để bột trà không rớt ra ngoài rồi cầm cái gáo tre (hishaku) múc nước nóng trong ấm đổ vào chén chè xanh. Gia chủ dùng một dụng cụ bằng tre (chasen) - có hình dáng giống trái cầu lông- đánh trà theo chữ 川 (kawa) từ trên xuống, xong đánh nhanh tay cho đến khi chén trà dậy bọt, càng dậy bọt càng ngon. Quy trình đánh trà kết thúc bằng chữ の (no) - ký tự trong bộ chữ Hiragana. Khi gia chủ pha trà, khách cảm nhận được sự chánh định của từng thao tác trên đôi tay và sự an lạc trên sắc diện.

Cầm chén trà vừa hoàn thiện bằng hai tay, gia chủ xoay ba vòng và dừng lại khi phần đẹp nhất của chén trà hướng về phía khách. Trà khách cũng đón nhận chén trà bằng hai tay  xoay ba vòng để phần đẹp nhất xoay lại về gia chủ rồi, nâng chén trà lên ngang mày vái nhẹ. Sau khi miếng bánh ngọt cuối cùng vừa trôi trong miệng, khách nhận chén trà từ tay gia chủ uống liền ba hớp, hết chén trà. Khách tỉnh lặng thưởng thức vị đắng của trà hòa quyện vào vị ngọt của bánh vừa tan trong miệng, thật lâu, thật lâu. Cuối cùng trà khách dùng khăn tay của mình lau nhẹ vệt trà xanh in trên vành chén rồi trao chén trả về gia chủ; cả hai lại cúi đầu chào nhau. Khi khách thưởng trà, gia chủ nhận biết khách đang chánh niệm, đang sống trọn vẹn với chén trà tại đây và giờ phút này.

Để buổi thưởng trà được thăng hoa, gia chủ mời khách bàn luận một đề tài đã cùng nhau định trước. Chủ đề của buổi trà đạo hôm nay bàn về bốn chữ “nhất kỳ, nhất hội” (ichigo ichie), tạm diễn ý: “Cuộc gặp gỡ hôm nay, là cơ hội duy nhất của đời mình”. Và rằng, thế giới này nhỏ lắm, xoay người lại bạn không ngờ rồi mình sẽ gặp ai. Nhưng thế giới này cũng rất lớn, xoay lưng đi là sẽ chẳng còn gặp lại. “Nhất kỳ, nhất hội” còn ẩn chứa nghĩa rộng lớn của Thiền tông: Khó khăn lắm ta mới được làm người, hãy chuyên cần tu dưỡng để trở thành người cao quý, bậc giác ngộ.

...

Việt Nam là đất nước có nhiều cây Chè và người uống trà; Thừa Thiên Huế cũng vậy. Cảnh quan Thừa Thiên Huế đẹp như một bức tranh phong thủy hữu tình. Hơn nữa, Thừa Thiên Huế có nhiều mỏ đá, nhiều tranh, tre, nứa, lá và những con người khéo tay; điều kiện cần và đủ để thực hành nghi thức trà đạo. Hãy dành vài m2 trong khuôn viên vườn nhà dựng lên một trà thất. Một bộ trà cụ mộc mạc, một bức thư pháp, một chậu bonsai nhỏ, một cái lư xông trầm, vài thanh củi khô và một nắm chè xanh là người dân Thừa Thiên Huế đã có một sản phẩm du lịch thanh cao, độc đáo. Vừa mời gọi khách phương xa, vừa chiêu đãi bạn hiền. Nhưng, để đạt được triết lý của “đạo” trong thưởng trà thì, trước hết, gia chủ phải thực hành thường xuyên hòa-kính-thanh-tịch với mình, với gia đình và với những người chung quanh.

Là một vùng đất cố đô thấm đẫm tố chất văn hóa cung đình. Là con người của kinh đô Phật giáo tiềm tàng tánh thiện sẵn có, nếu Thừa Thiên Huế không khởi xướng hòa-kính-thanh-tịch để vun đắp và duy trì đạo đức xã hội cho mình và cho người thì vùng đất nào ở Việt Nam có thể bắt đầu?

Trà đạo Thừa Thiên Huế, tại sao không?

 

----------------------

Bài đã đăng báo Thừa Thiên Huế tháng 9/2015

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/07/2025(Xem: 5652)
SỐNG TRỌN VẸN NHƯ THẾ NÀO Nguyên bản: How to practice the way to a meaningful life Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
10/07/2025(Xem: 6801)
BỪNG SÁNG CON ĐƯỜNG GIÁC NGỘ Nguyên bản: Illuminating the Path to Enlightenment - Tác giả: His Holiness the Dalai Lama Chuyển ngữ: Tuệ Uyển Dịch kệ: Hồng Nhu ***
09/07/2025(Xem: 5902)
Năm năm trước đây (2009) Tuệ Uyển đã dịch quyển Bừng Sáng Con Đường Giác Ngộ (Illuminating The Path To Enlightenment) một quyển sách ghi lại sự giảng dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma căn cứ trên Tiểu Luận Con Đường Tiệm Tiến Lamrim (Bồ đề thứ đệ tiểu luận) của Tổ sư Tông Khách Ba Và Ngọn Đèn Cho Con Đường Giác Ngộ (Bồ đề đạo đăng luận)của Tổ sư Atisa. Năm nay (2014) Tuệ Uyển lại có cơ hội để chuyển ngữ Đại Luận Con Đường Tiệm Tiến Lamrim (Bồ Đề Thứ Đệ Đại Luận) của Tổ sư Tông Khách Ba cũng do sự giảng dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma.
09/07/2025(Xem: 6239)
LỜI GIỚI THIỆU “Ba mươi bảy phẩm trợ đạo giác ngộ” là tuyển tập các bài giảng của đức Dalai Lama do Nyima Tsering dịch tiếng Anh và Tuệ Uyển - Thích Từ Đức dịch tiếng Việt, được xem là cẩm nang tu tập hướng đến sự giác ngộ theo tinh thần Phật giáo Tây Tạng. Tác phẩm gồm ba phần như sau: Phần đầu gồm 37 phẩm trợ đạo, thường được biết đến là Con đường tiệm tiến (Lam Rim) vốn là cẩm nang luyện tâm, chuyển hóa tâm trong tâm lý học Phật giáo Tây Tạng. Khác với 37 phẩm trợ đạo được đức Phật giảng dạy trong kinh điển Pali, 37 phẩm trợ đạo giác ngộ này thực chất là 37 điều tâm niệm, theo đó đức Dalai Lama phân tích ứng dụng cho người tu học Phật. Lời chú giải của đức Dalai Lama rất gần gũi với đời sống thực tiễn, nhờ đó, người học có thể ứng dụng Phật pháp hiệu quả, nhằm vượt qua các bế tắc và khổ đau. Mỗi ngày trải nghiệm một điều trợ đạo giác ngộ, người đọc sẽ thấy tâm mình nhẹ nhõm, thư thái, sáng suốt, điềm tĩnh và tìm ra giải pháp vượt qua các bất hạnh. Ba phương diện của con
09/07/2025(Xem: 4030)
Tôi chú ý đến cô ta trong đám đông ngay lập tức. Cô vươn mình ra phía trước, chỉ phía sau làn dây nhung lớn ngăn cách trong phòng khánh tiết nhỏ của lâu đài Prague ( thủ đô Cộng Hòa Czech). Cô là một phụ nữ hấp dẫn, có lẻ trong độ tuổi ba mươi. Khuôn mặt sôi nổi với sự mong đợi.
09/07/2025(Xem: 5089)
Ngài tự nhận trọn đời ngài chỉ là một nhà sư đơn giản, nhưng sóng gió tiền định đã đưa ngài vào ngôi vị Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 để gánh vác chức lãnh đạo cả đạo và đời cho dân tộc Tây Tạng từ khi ngài còn thơ ấu.
09/07/2025(Xem: 3292)
Lăn qua lộn lại, kéo mền trùm đầu vẫn không sao ngủ được. An ngồi dậy, đi ra đi vào và uống nước mấy lần, tâm trí bất an, song lòng dập dờn như biển, lại thấy nóng như thiêu như đốt. Dẫu biết lo lắng cũng không giải quyết được chuyện gì nhưng không thể không lo lắng. Má An ở quê bị bệnh nghiêm trọng, bác sỹ chuẩn đoán bị ung thư kỳ cuối.
09/07/2025(Xem: 3367)
Chẳng khác gì ngày nay, ngay cả vào thời đại của Đức Phật trong châu thổ sông Hằng, cách nay hơn 25 thế kỷ, cũng đã từng có những kẻ điên rồ và những người sáng suốt. Sự tương phản giữa u mê và sáng suốt, giữa hung bạo và yêu thương, giữa vơ vét và chia sẻ, không những là một sự tương phản giữa con người với nhau trong cộng đồng xã hội, mà còn là một trong các nguyên nhân chủ yếu mang lại thật nhiều đổ vỡ trong sự sinh hoạt của con người nói chung.
08/07/2025(Xem: 4887)
Ăn mặn, cứ nghĩ con vật: thân nhân mình. Tự nhiên thấy ớn nhợn, rùng mình dừng ngay. Thực tập như vậy trong bữa ăn hàng ngày. Rồi chắc chắn ngả qua ăn chay mấy hồi.
08/07/2025(Xem: 3171)
Trong tịch liêu người ta nghe ra tiếng nói của cỏ nội hoa ngàn, tiếng côn trùng rả rích, tiếng thì thầm của giọt sương mai, tiếng của ngàn xưa réo gọi. Hành giả lắng nghe tiếng gọi ấy, lần theo dấu chân xưa mà lên đường. Lên đường không từ những bước chân ngoài vạn dặm xa, mà từ sự thúc giục của chính nội tâm mình, của bồ-đề nguyện và bồ-đề hành. Cuộc lên đường ấy cũng chính là một cuộc trở về.