Cho Trọn Mùa Xuân

13/05/201312:51(Xem: 17237)
Cho Trọn Mùa Xuân
Cho Trọn Mùa Xuân


Cho Trọn Mùa Xuân

HT. Thích Đức Niệm
Nguồn: www.quangduc.com


mai-8Xuân tết là ngày quan trọng và thân thiết đối với mọi người, dù người đó đang ở đâu, trong hoàn cảnh nào. Kỳ gian xuân tết mỗi nơi mỗi khác, nhưng hễ mỗi lần xuân tết là báo hiệu ngày mở đầu năm mới, người người đều cảm thấy nơi lòng sống dậy niềm hy vọng sẽ được hạnh phúc sáng sủa và may mắn tốt lành hơn năm cũ.

Xuân mang ý nghĩa tăng trưởng nguồn sống cho vạn loại sanh linh. Xuân mang lại nguồn sống của vạn vật đâm chồi nẩy lộc tốt tươi như thế nào, thì ngày đầu năm xuân tết người ta cũng vui vẻ chúc cho nhau những điều lành tốt như thế ấy. Trong những ngày xuân tết, người ta hết sức kiêng cữ lời nói, cố tránh việc làm không hay đẹp. Người ta thường trao tặng cho nhau những món quà xinh tốt với nụ cười lời chúc “hạnh phúc, may mắn, tăng thọ, phát tài, phát lợi, bình an.”

Ngày xuân tết, chúng ta còn thấy giấy đỏ, chữ vàng dán trước cửa nhà với những câu chúc tết như: “Địa cửu, Thiên trường” - “Phước như đông hải, thọ như nam sơn” - “Vạn sự cát tường như ý”- “Tài lộc như thủy nhập môn” v.v…Đủ những lời hay ý đẹp để nói lên ý nghĩa hy vọng an lành cầu chúc cho nhau được may mắn hạnh phúc trường cửu trong ngày đầu năm mới. Nhưng có một điều chúng ta không thấy chúc cho nhau đó là: “Năm mới cố gắng tinh tấn làm lành, tu tâm sửa tánh hơn.” Lời chúc nầy đích thực là căn bản sản sanh hạnh phúc chơn thường, con người sẽ có tương lai sáng lạn huy hoàng trường cửu, ấy thế mà người ta lại quên! Chính vì quên, thiếu hay không để ý hoặc xem thường việc tu bồi phước đức, sửa tánh tu tâm nên không khuyến khích chúc cho nhau tinh tấn hướng về nẻo thiện, trong năm mới. Do đó mà những lời chúc tụng tốt lành trên kia trở thành thói quen, tập tục, nếu không muốn nói là những lời sáo ngữ, không thực tế chút nào. Vì sao?

Bởi vì “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.” “Người trồng cây hạnh người chơi, ta trồng cây phúc để đời về sau.” Vậy thì may mắn hạnh phúc là do ngoại cảnh hay nội tâm? Không tu tâm sửa tánh, tức là tâm không tu, tánh không sửa, không lo làm việc lành thiện, chỉ biết mải mê tham danh đoạt lợi ích kỷ đố kỵ, thị phi hơn thua thì làm sao có phước như đông hải? Không biết bố thí, trì giới, phóng sanh, thực hành theo tâm hạnh nhân đức từ hòa của thánh hiền, chỉ biết chạy theo tham sân danh lợi trần tục thì làm sao được tuổi thọ như nam sơn? Chúng ta muốn được phước lộc thọ, địa cửu thiên trường mà chúng ta không nhiệt tình làm phước, không tu tâm sửa tánh, không khởi tâm lành thiện nhẫn nhục khiêm tốn, không cố gắng vun bồi phước đức thì làm sao có được phước lộc thọ? Phước lộc thọ, an vui may mắn hạnh phúc không phải do tranh danh đoạt lợi mà có được, mà phải chính do nội tâm của chúng ta tạo nên bằng gắng công tu phước bồi đức. Không có tu tâm sửa tánh hành thiện thì nhất định không thể nào có được phước lộc thọ và rất ít có được những phút giây tâm hồn định tĩnh thanh thản vui tươi thưởng xuân, dù đang sống trong lâu đài tiền kho bạc biển, trong mùa xuân bướm lượn hoa cười, áo mới pháo nổ cũng vẫn thấy lo âu sầu khổ trong mùa xuân. Thế nên cổ đức nói: “Tâm xuân vũ trụ đều xuân. Tâm buồn thế giới đâu đâu cũng buồn” là vậy.

Đời nay có người không tu tâm, không làm phước mà được giàu có, điều đó cũng không phải là tự nhiên. Nên biết rằng, tất cả sự việc trên đời không ngoài nhân quả. Người kia đời nay bất lương không tu tâm làm lành mà lại được giàu có, thì đó là họ hưởng phước lành đời trước họ đã tạo. Còn đời nầy họ làm điều bất thiện thì sẽ chịu quả báo hoặc cuối đời nầy hay đời sau. Gia đình cụ Ngô-Đình-Diệm chẳng đáng để cho chúng ta suy gẫm đó sao? Luật nhân quả công bằng nào có đổi thay, như lưới trời lồng lộng nhìn không thấy, nhưng không sai chạy, không sót lọt mảy lông. Kinh Nhân-Quả nói:

Dục tri tiền thế nhân
Kim sanh thọ giả thị
Dục tri lai thế quả
Kim sanh tác giả thị

Nghĩa là:
Muốn biết nhân đời trước
Nên xem đòi sống họ ngày nay
Muốn biết quả đời sau
Cứ xem việc họ làm ngay nay.

Không biết tu tâm sửa tánh tạo phước đức thì lẽ tất nhiên không thể nào có may mắn, hạnh phúc, phát tài, hưởng lộc bền lâu. Cũng như không chịu khó bới đất trồng cây, không ra công gắng sức săn sóc bón phân, tưới nước thì không làm sao có được cây tươi, hoa đẹp, trái tốt để thưởng thức? Không chịu khó cố gắng học hành thì làm sao thành danh với bằng cấp sự nghiệp? Không chịu khó đọc kinh sách nghiên tầm học hỏi lời dạy của các bậc cổ đức thì làm sao thấu hiểu được triết lý ở đời, lời dạy thâm thúy của thánh hiền? Không gắng gổ tu tâm bồi đức bồi phước mà muốn được giàu sang hạnh phúc là người đánh bạc muốn làm phú ông, là kẻ nông phu không cần mẫn với ruộng vườn, là học sinh không đến trường vào lớp mà muốn được đỗ đạt bằng cấp.

Bởi thế, chỉ biết chúc cho nhau phát tài, đắc lợi, sống lâu, hạnh phúc bằng những lời sáo ngữ “đông hải, nam sơn” v.v… mà không chúc cho nhau tinh tấn cố gắng “tu tâm sửa tánh, vun bồi phước đức” hơn năm cũ là điều thiếu sót lớn lao. Điều quan trọng là để xây dựng hạnh phúc mà không lưu tâm làm phước tu đức thì bảo sao suốt năm chẳng lận đận, bất hạnh nhiều hơn là vạn hạnh? Chẳng khác nào kẻ suốt năm chẳng đi chùa lạy Phật nghe kinh, chẳng chịu làm lành làm phước tu tâm sửa tánh, mà chỉ đầu năm đến chùa xin xăm cầu hên, cầu vận mạng tốt là điều mơ mộng. Có kẻ sống trong hơn thua chụp giựt, suốt tháng năm chạy đôn chạy đáo chụp bắt danh nọ lợi kia, đến khi chạm trán với điều bất hạnh thì xin xăm bói quẻ cầu thần khấn trời ban phưóc! Người đời thường bỏ gốc lấy ngọn, quên sửa tâm tánh mà chỉ nhớ lợi danh! Vì thế cho dù đầu năm chúc nhau bằng những lời tốt lành, mà suốt năm vẫn phải nhận lãnh những điều bất hạnh, phiền muộn, bất như ý, nguyên nhân sâu xa từ đấy.

Lại còn có những người suốt năm chẳng biết tu tâm làm phước, đến ngày mùng một Tết hoặc rằm tháng Giêng vội vã đến chùa lạy Phật cầu được may mắn, vạn sự như ý! Chưa đủ, họ còn chạy đến các đền miếu để khấn cầu ông thần nầy, bà chúa nọ phù hộ, xin xăm bói quẻ cầu vận mạng năm mới được tốt lành như ý! Họ quên đi câu nói của ông bà chúng ta đã dạy: “Có phước đức mặc sức mà ăn.” Các bậc thánh hiền đã từng khuyên người đời: “Phước túc mạng” – “Đức thắng số.” Phước túc mạng nghĩa là mình biết làm điều lành thiện, bố thí, giúp người nghèo đói, cứu trẻ cô nhi thì đời sống của mình sẽ được đầy đủ sung túc thoải mái suốt đời. Đức thắng số có nghĩa là mình biết trì trai giữ giới, tu tâm sửa tánh làm lành, biết nhẫn nhục tha thứ thì tai ương hoạn nạn sẽ đưọc tiêu trừ, mạng sống cũng theo đó được lâu dài an lành hạnh phúc.

Đạo Phật dạy, muốn thoát khỏi cảnh nghèo đói để được giàu sang, có chức phận địa vị thì cần bố thí, cúng dường, đó là tạo nhân “phước.” Muốn có trí huệ để thoát khỏi ngu dốt, đạt lý thông minh, được người đời kính trọng nể vì cung phụng thì nên trì giới tu tâm sửa tánh, đó là tạo cái nhân “lộc.” Muốn được mạnh khỏe sống lâu đời đời hưởng hạnh phúc với con cháu thì nên nhẫn nhục, nuôi dưỡng tâm từ bi thương người thương vật, biết sống trong tinh thần vị tha hỷ xả, chẳng những không sát sanh hại vật, mà còn phải bảo hộ mạng sống, phóng sanh, đó là tạo nhân “thọ.” Như thế, phước lộc thọ do chính mình tạo ra, do bên trong tâm tu dưỡng hình thành và bên ngoài thân làm lành thiện lợi tha tránh điều ác, tất cả đều do chính mình tạo phước lộc thọ mình hưởng, chứ không phải cầu thần thánh nào ban cho cả.

Cứ chân thành tu tâm sửa tánh làm lành lánh dữ, trì trai giới hạnh, biết sống đời tri túc, tập sống hạnh nhẫn nhục lợi tha, dẹp bỏ ngã mạn, diệt trừ ích kỷ hờn giận thì chắc chắn sẽ được hưởng phước lộc thọ. Nếu không lưu tâm để ý đến điều quan trọng tu bồi phước đức mà chỉ cầu chúc suông thôi, thì đó là lời cầu chúc xáo ngữ, trống rỗng vô nghĩa, điều hy vọng hạnh phúc may mắn năm mới chỉ là hão huyền mà thôi. Dù có tiền tài danh vọng mà không biết tu tâm sửa tánh thì bất quá cũng chỉ duy trì tiền tài danh vọng ấy trong tình trạng mong manh hồi hộp, lắm khi còn phải sống trong tủi nhục bất an vì tiền bạc do thất đức mà có đó nữa là khác.

Xuân trong nhà Phật không phải chỉ vui khi xuân đến hoa nở và buồn khi xuân đi hoa tàn. Xuân của người tu học Phật không phải xuân đến vui rộn với tiếng pháo nổ ran, xuân đi buồn tiếc với xác pháo ngập tràn đầu đường cuối ngõ. Xuân của người tu hiểu đạo Phật không chúc nhau “Phước như đông hải, thọ như nam sơn” – “Phát tài phát lợi bình an,”mà chúc cho nhau “năm mới tinh tấn tu hành hơn năm cũ.” “Năm mới phát tâm Bồ-đề, phát nguyện tinh tấn tu học.” Vì có thật tâm tinh tấn tu học thì mới tiêu trừ ác nghiệp, tiêu tai giải hạn, mọi việc được hanh thông như ý.

Người chân chánh tu học Phật nhờ trì trai giữ giới, giữ gìn ba nghiệp thân miệng ý không tạo ác, cố gắng hành thiện, chuyên cần gột rửa tâm tánh được thanh tịnh, nên lúc nào cũng hưởng xuân tràn ngập nơi lòng. Thân tâm thanh tịnh, phiền não sạch trong, ấy là hạnh phúc là phước lộc thọ. Xuân hạnh phúc phước lộc thọ của thế gian nếu thật có, cũng chỉ hạn cuộc theo thời tiết tháng năm, vì con tham, sân, si, mạn, nghi, phân biệt, ích kỷ. Còn xuân hạnh phúc phước lộc thọ của nhà Phật vượt ngoài thời gian tháng năm, vì lúc nào thân tâm cũng thanh tịnh, cõi lòng hỷ xả buông thả sự đời không dính mắc lợi danh, nên không bị buộc ràng theo cảnh đắc thất thịnh suy, vinh nhục, tham sân, chấp ngã. Không có mùa xuân nào an lạc hạnh phúc lâu bền bằng mùa xuân thân tâm thanh tịnh. Do đó, cổ đức tiên hiền đã nói: “Tâm an lý đắc” – “An bần lạc đạo” – “Sớm hiểu đạo, chiều chết cũng vui.” Đấy là tâm xuân khắp vũ trụ đều xuân.

Người đời cầu trường thọ. Nhưng trường thọ mà không thức tỉnh tu tâm thì đâu có biết trường thọ là nhân của khổ. Vì tuổi đời càng chồng chất mà không hiểu đạo, không biết tu tâm sửa tánh hành thiện, thì tội lỗi càng chồng chất theo tuổi thọ đó thôi. Nên cổ đức đã nhắc nhở “đa thọ đa nhục,” là ý nghĩa nầy vậy.

Trái lại, tuổi thọ trong nhà Phật không phải tính theo năm tháng chất chồng như thế gian, mà tính theo giới hạnh hạ lạp. Nghĩa là tính theo sự thọ giới hành đạo, an cư kiết hạ. Người càng hành trì giới luật nghiêm túc lâu năm thì được tuổi đạo càng cao. Phật pháp theo đó càng bền lâu phát triển. Thọ trì giới luật không phải chỉ riêng hàng xuất gia, mà Phật tử tại gia muốn thăng hoa hạnh phúc bản thân, gia đình và tiến nhanh trên đường giác ngộ giải thoát cũng phải khởi đi từ sự nghiêm trì giới luật, phát tâm Bồ-đề.

Ngược lại, dù tuổi đời có đến trăm năm mà không có tuổi đạo, thì cũng vẫn là kẻ tầm thường phàm tục. Dù tuổi đời có đến hơn trăm mà mới biết đạo, mới học hiểu đạo chỉ được vài ba năm thì vẫn là kẻ sơ cơ. Người như thế tuổi đạo chưa vào đâu. Đặc biệt, điều đáng lưu tâm hơn nữa là, dù là ấu niên xuất gia, thọ giới lâu năm mà giới hạnh không tinh nghiêm, đạo hạnh yếu kém, tâm hạnh không thanh tịnh thì Phật gọi đó là kẻ lạm xưng tăng bảo, thân tuy xuất gia mà tâm chưa vào đạo. Trong Giới kinh gọi người đó là: “Thân tuy hành đạo mà tâm đạo chẳng hành.”

Xuân đạo hạnh là xuân hạnh phúc chân thật vĩnh viễn chỉ có ở những tâm hồn thanh tịnh hỷ xả. Nếu tâm còn dính mắc hơn thua, nhân ngã, lợi danh, chức tước, quyền hành, hình thức thì không bao giờ hưởng được mùa xuân vạn hạnh, thanh thoát, mà chỉ tự mãn với xuân phiền não, xuân giả tạo, vui với huyễn ảo hoàn cảnh bên ngoài.

Với ý nghĩa trên đây, nay ngày đầu năm xuân tết, tôi xin chúc tất cả mọi người thân tâm thanh tịnh, trọn hưởng mùa xuân vạn hạnh. Chúc quý vị thân tâm thanh tịnh để trọn hưởng nhạc xuân muôn điệu, hoa xuân rộn nở muôn màu, ánh xuân rạng chiếu khắp muôn phương, hồn xuân tràn ngập đất trời hòa cùng vũ trụ, chan hòa cõi lòng tự tại thanh thoát. Ấy mới thật trọn hưởng mùa xuân: “Tâm xuân vũ trụ đều xuân.” Như Trần-Nhân-Tông nói:

“Trăng sáng đầy chân tâm
Tâm xuân rạng rỡ cõi lòng
Tình xuân hoa nở ngát thơm hương thiền.”
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 14291)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 20252)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17433)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 14948)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16755)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12762)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11653)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12114)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 8050)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9123)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.