01 - Nói về sắc thân

24/04/201317:59(Xem: 15668)
01 - Nói về sắc thân


Khóa Hư Lục
Tác giả:Hoàng Đế Trần Thái Tông
Dịch giả:HT. Thích Thanh Kiểm

---o0o---

QUYỂN THƯỢNG

---o0o---

Nói Rõ Về Sắc Thân

Vốn vĩ! Bốn đại (1) đều không, năm uẩn (2) chẳng có. Do không dấy vọng, vọng thành sắc, sắc tự chân không: nên vọng từ không, không hiện vọng, vọng sinh các sắc. Đã trái không sinh không hóa, nên mãi có hóa có sinh. Không sinh hóa thời không hóa không sinh; có hóa sinh, nên có sinh có hóa. Hoặc sinh thánh hiền, ngu trí; hoặc hóa vẩy cánh lông sừng. Luôn luôn rạt đắm ở bến mê, mãi mãi nổi chìm trong biển khổ. Lờ mờ mù mịt, nào biết nào hay; lo lắng vội vàng, chẳng tình chẳng ngộ. Hết chỉ buông lòng trôi khắp, đều không xỏ mũi kéo về. Khiến đến qua lại sáu đường (3), xuống lên bốn núi. Bốn núi là: sinh, lão, bệnh, tử. Nay lần lượt trình bày bốn núi để lại đời sau:

Kệ Bốn Núi

Tranh vanh bốn núi vạn cây tùng

Liễu ngộ đều không vạn vật không

Ba cẳng lừa kia mừng vướng đó (4)

Cỡi lên thẳng tới đỉnh non bồng.

Tứ Sơn kệ

Tứ sơn tiễu bích vạn thanh tùng

Ngộ liễu đô vô vạn vật không

Hỉ đắc lư nhi tam cước tại

Mịch k?đả sấn thướng cao phong

*

Núi thứ nhất là tướng sinh. - Vì sai một niệm, nên hiện nhiều bề. Gởi hình hài nhờ tinh huyết mẹ cha, nuôi thai nghén nhờ âm dương hai khí. Trong tam tài (5) người đứng giữa, đối vạn vật loài rất thiêng. Chẳng kể kẻ trí người ngu, đều thuộc trong bào thai nghén; hỏi chi một người trăm họ, cùng về lo bễ (trời đất) nấu nung. Hoặc mặt trời nêu thánh chúa giáng sinh, hoặc các sao ứng tôi hiền xuất hiện. Văn bút quét ngàn quân chiến địa, võ lược thu trăm trận công lao. Trai khoe ném quả bởi dáng tươi (6), gái cậy nghiêng thành (7) vì vẻ đẹp. Thoạt cười, người mất nước; cười tiếp kẻ nghiêng thành. Tranh đẹp khoe danh, ganh hay giành lạ. Xem ra vẫn vòng luân hồi, rốt cuộc cũng đường sinh hóa. Tướng sinh người ấy, năm là mùa xuân. Ba dương (8) mở thêm vận thái, muôn vật rực rỡ mầu tươi. Một trời trong sáng, nơi nơi liễu thắm hoa hồng; muôn dặm phong quang, chốn chốn oanh kêu bướm lượn.

Kệ Rằng:

Trời đất (9) nấu nung vạn vật thành

Bản lai không mống cũng không manh

Bởi sai có niệm quên vô niệm

Nên trái không sinh chịu hữu sinh

... Mũi lưỡi tham hương say đắm vị

Mắt tai ưa sắc chuộng âm thanh

Phong trần khách nọ lang thang mãi

Ngày vắng quê hương muôn dặm trình.

(Chân tể huân đào vạn tượng thành

Bản lai phi triệu hựu phi manh.

Chỉ sai hữu niệm vong vô niệm

Khước bội vô sinh thụ hữu sinh

Tị trước chư hương, thiệt tham vi

Nhăn manh chúng sắc, nhĩ văn thanh

Vĩnh vi lăng đăng phong trần khách

Nhật viễn gia hương vạn lý trình)

*

Núi thứ hai là tướng già. - Hình dung thay đổi, khí huyết suy vi. Dáng gầy tuổi cao, ăn uống mắc nghẹn. Mái xanh má đỏ, đổi thành tóc bạc da gà; ngựa trúc áo hoa, lại thêm gậy cưu (10), xe cói (11). Ví khiến Ly-Lâu (12), mắt sáng, nhìn sắc không rành; Dẫu rằng Sư-Khoáng tai thông (13) nghe tiếng chẳng biện. Tiều tụy như liễu bồ thu tới, xác xơ tựa hoacỏ xuân qua. Trời chiều sắp gác non đoài, nước chảy rót về đông hải. Tướng người già ấy, mùa hạ trong năm. Trời nóng nứt đá, làm muôn vật đều khô; nắng gắt chảy vàng, khiến trăm sông hầu cạn. Hoa tàn liễu rạc, trong vườn bờ lạch há giữ lâu; bướm lượn oanh bay, dưới lá đầu cành đâu nhộn mãi.

Kệ Rằng

Con người kiếp sống tựa phù âu

Thọ yểu an bài nõ phải cầu

Cảnh giục nương dâu trời ngả tối

Thân như bồ liễu tạm qua thâu (thu)

Chàng Phan (14) ngày ấy còn xanh tóc

Lã-Vọng (15) năm nay đã bạc đầu

Cuồn cuộn sự đời trôi chẳng đoái

Vầng ô gác núi nước suôi trào.

(Nhân sinh tại thể nhược phù âu

Thọ yểu nhân thiên mạc vọng cầu

Cảnh bức tang du tương hướng vãn

Thân như bồ liễu tạm kinh thâu

Thanh điêu tích nhật Phan-Lang mấn

Bạch biến đương niên Lã-Vọng đầu

Thế sự thao thao hồn bất cổ

Tịch dương tây khứ thủy đông lưu).

*

Núi thứ ba là tướng bệnh. - Tuổi cao gìa yếu, tật ngấm cao hoang; Bốn chi mỏi mệt, mạch lạc khó thông; trăm đốt rã rời lạnh nóng chẳng thuận. Tính chân thường đã mất, nguồn điều xướng cũng sai. Đứng ngồi khó khăn, co ruỗi đâu khổ. Mạng tựa ngọn đèn trước gió, thân như bọt nước trên ao. Tâm sinh bóng quỷ lô nhô, mắt thấy hoa không lốm đốm. Hình hài gầy yếu, ai là Biển-Thước (16) thuốc hay; dáng vóc suy vi, ai kẻ Lư-Nhân (17) chữa khỏi. Bạn bè luống công thăm viếng, anh em uống sức phù-trì. Bệnh nặng thì nhiều tháng chẳng lành, cảm xoàng cũng hàng tuần chưa khỏi. Tướng bệnh người ấy, mùa thu trong năm. Gặp lúc sương muối vừa rơi, tới kỳ cỏ cây đều héo. Xum xuê rừng rậm, gió thu một trận thấy lơ thơ; biêng biếc non xanh, giọt móc mới sa thêm trơ trụi.

Kệ Rằng:

Âm dương họa phúc vốn xoay vần

Reo rắc tai ương tới thế nhân

Đại để có thân thì có bệnh

Nhược bằng không bệnh cũng không thân

Thuốc tiên nào thấy ai còn mãi

Lương dược xem ra cũng hết xuân

Sớm nguyện lánh xa ma cảnh giới

Quay về tâm đạo dưỡng thiên chân

(Âm dương khiên đức bản tương nhân

Biến tác tai truân cập thế nhân

Đại để hữu thân phương hữu bệnh

Nhược hoàn vô bệnh diệc vô thân

Linh đan mạn thác trường sinh thuật

Lương dược nan linh bất tử xuân

Tảo nguyện viễn ly ma cảnh giới

Hồi tâm hướng đạo dưỡng thiên chân)

Núi thứ tư là tướng tử. - Bệnh khi trầm trọng, mệnh mới cáo chung. Tuổi thọ mong hưởng hạn trăm năm, thân thể bỗng thành trong giấc mộng. Thông minh trí tuệ, khó tránh đại hạn đến ngày; sức mạnh oai hùng, sao chống vô thường khi tới. Vợ trinh thiếp thuận, bỗng thành đặc biệt đau thương; anh kính em hiền, vội phải trọn đời xa cách. Vật mình lăn đất, vỗ trán kêu trời. Tường vẽ, nhà rộng để làm chi, chứa ngọc chất vàng dùng gì nữa. Dạ đài (18) tối mịt, luống nghe gió bấc vi vu; tuyền lộ (19) then cài, chỉ thấy mây sầu, ảm đạm. Tướng tử người ấy, mùa đông trong năm. Càn Khôn ứng Thái-tuế trọn vòng (20), nhật nguyệt hướng Huyền-hiều hội tụ (21). Âm tinh cực thịnh, khắp trời mưa tuyết lại bay mù; dương khí dần tan, nơi chốn nước ngưng thêm buốt lạnh.

Kệ Rằng:

Dồn dập cuồng phong khắp mọi nơi

Ngư ông say tứ mặc thuyền trôi

Bốn bề mây phủ mầu đen kịt

Một dải sóng gầm tiếng trống hồi

Xoay chuyển ỳ ầm xe sấm động

Tung bay sầm sập trận mưa rơi

Tạm thời bụi cuốn chân trời sáng

Đêm vắng trăng theo bóng nước soi

(Bãi đãng cuồng phong quát địa sinh

Ngư ông túy lý điếu chu hoành

Tứ thùy vân hợp âm mai sắc

Nhất phái ba phiên cổ động thanh

Vũ cước trận thôi phiêu lịch lịch

Lôi xa luân chuyển nộ oanh oanh

Tạm thời trần liễm thiên biên tĩnh

Nguyệt lạc trường giang dạ kỷ canh)

*

Chú Thích:

(1) Bốn đại: 1. Địa đại, 2. Thủy đại, 3. Hỏa đại, 4. Phong đại.

(2) Năm uẩn: 1. Sắc uẩn, 2. Thụ uẩn, 3. Tưởng uẩn, 4. Hành uẩn, 5. Thức uẩn.

(3) Sáu đường: 1. Trời, 2. Người, 3. A-tu-la, 4. Địa ngục, 5. Ngã quỷ, 6. Súc sinh.

(4) Ba cẳng lừa kia: Dịch ở chữ "Lư nhi tam cước". Xuất xứ từ câu chuyện: Có vị Tăng hỏi Dương-Kỳ Thiền-Sư: Thế nào gọi là Phật? Thiền-sư đáp: "Con lừa ba cẳng nhảy tung tăng" (Tam cước lư nhi để lộng hành). Vậy lư nhi tam cước là nhân cách hóa cho linh tính, Phật-tính hay bản lai diện mục.

(5) Tam tài: Thiên, địa, nhân.

(6) Ném quả: Sách Tấn, truyện Phan-Nhạc. Nhạc người rất đẹp trai, lúc thiếu thời, thường ôm đàn đi dạo đường phố Lạc-Dương; phụ nữ gặp đều vây quanh, ném quả vào đầy xe. Người sau nói về vẻ đẹp của thiếu niên phần nhiều dùng điển này.

(7) Nghiêng thành: Dịch ở chữ "Khuynh quốc Khuynh thành". Sách Hán chép: Phương bắc có một giai nhân tuyệt đẹp mà vẫn ở một mình. Nở nụ cười đầu làm nghiêng thành người, nụ cười tiếp làm nghiêng nước người (nhất tiếu khuynh nhân thành, tái tiếu khuynh nhân quốc).

(8) Ba dương nở thêm vận thái: Dịch ở chữ "Tam dương hanh thái" cũng gọi "Tam dương giao thái". Vì tam dương thuộc quẻ Càn(hình) có ba hào dương. Quẻ Càn thuộc tháng Giêng, lại giao với quẻ Thái (hình). Thái là quẻ hanh thông, ví có "càn" ở dưới "khôn" ở trên, âm dương giao hòa, nên vạn sự hanh-thông. Tam dương hanh thái cũng là lời chúc đầu xuân.

(9) Trời đất: Dịch ở chữ "Chân Tể", nghĩa là tạo vật, chủ tể của trời đất (danh từ Đạo giáo).

(10 Gậy Cưu: Gậy của người già, đầu gậy có khắc hình chim cưu.

(11) Xe cói: Lấy cỏ bọc bánh xe để người già ngồi cho êm.

(12) Ly-Lâu: Tên người, cũng gọi là Ly-Chu, người thời vua Hoàng-Đế, có con mắt sáng, nhìn xa ngoài trăm bước, mà thấy từng mẩy lông.

(13) Sư-Khoáng: Tên một nhạc sư đời Tấn, thời Xuân-Thu, tên chữ là Tử-Dã, có thể nghe tiếng nhạc mà biết được cát, hung.

(14) Chàng Phan: Tức Phan-Nhạc đời Tấn.

(15) Lã-Vọng: Còn gọi là Thái-Công-Vọng Lã-Thượng. Lã-Thượng người đất Đông-Hải thời nhà Chu, vốn là họ Khương, trước đó được phong Lã, nhân thể gọi là Lã-Thượng, tên chữ là Tử-Nha, hoặc Thái-công-vọng, quân-sư vua Văn-Vương đánh Trụ, diệt nhà Ấn, có đại công bình đình thiên hạ.

(16) Biển-Thước: Tên một danh y thời vua Hoàng-Đế.

(17) Lư-Nhân: Cũng gọi là Biển-Thước, một thầy thuốc giỏi, trị bệnh chẩn mạch, thấy suốt được ngũ tạng, họ Tần tên là Việt-Nhân. Thầy thuốc ở đất Lư, nên đời gọi là Lư-Y hoặc Lư-Nhân.

(18) Dạ-đài: Tức là mộ-địa, mả, tha ma.

(19) Tuyền-đài: Cũng là phần mộ.

(20) Thái-Tue? Sao Thái-Tuế, cũng là tên riêng của Mộc-Tinh, cứ 12 năm xoay quanh mặt trời một vòng.

(21) Huyền-Hiều: Sao Huyền-Hiều, ở phương bắc gồm một chòm sao: Hư, Nguy, Nữ, Tú. Sao Hư ở chính bắc, phương bắc mầu huyền nên gọi là Huyền-Hiều. Hiều cũng gọi là hào, có ý nghĩa hư hao, ngôi sao xấu. Lần lượt 12 sao ứng vào 12 tháng, là những tháng nhật nguyệt tụ hội. Sao Huyền-Hiều ở tháng Tý tức tháng 11, tháng trọng-đông.

---o0o---

Vi tính: Việt Dũng

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
17/02/2012(Xem: 13621)
Đức Phật đã mở bày nhiều pháp hội, diễn thuyết vô lượng pháp môn, khiến cho trời người đều được lợi lạc. Dù vậy, giải thoát Niết-bàn là trạng thái tự chứng tự nội...
17/02/2012(Xem: 14307)
Ca Diếp thấy Phật đưa cái bông lên mà không nói, Ca Diếp cũng không nói, nhưng nét mặt hớn hở mỉm cười, là ông đã rõ thấu Chánh pháp của Phật, nó ẩn tàng sâu kín...
16/02/2012(Xem: 22417)
Tôi thường nói vui “đời không sóng gió không gì thú, sống chẳng gian nan chẳng có vui”, nên đã bao lần vấp ngã, là bao lần gượng dậy đứng lên, bao phen tù mà không tội, bao bận bước lang thang, tôi vẫn là tôi từ thuở nằm nôi cho đến bây giờ, có người đã tặng cho biệt danh là “Bạch Mi Lão Tổ”. Rất khoái, lại cười, thích thú lê gót đó đây, Càn Khôn một gánh, non nước một bầu, tâm sự gieo mây gởi gió, đạo pháp tràn khắp tim phổi, bước chân trên sỏi đá mà miệng vẫn ê a, nghênh ngang giữa cuộc đời vẫn ca bài con cá. Vì nghĩ rằng: trong mọi nẽo đường (quả đất này vốn dĩ không có đường, mà có là con người mở lối, dù là lối nhỏ hay to, dài hay ngắn, thẳng hay cong, có hoa bướm hay chông gai, có hố hầm hay nhung lụa).
15/02/2012(Xem: 17911)
Trường Đại Học Dharma Realm Buddhist và Đại Học San Francisco State. Tài liệu nghiên cứu "Súc Quyền và Sự Quan hệ của Con Người Đối Với Sinh Vật Học-San Francisco State University” (March 29-April 1, 1990). Tôi muốn bàn đến hai ví dụ nổi bật về loài vật hành động với nhiều nhân tính hơn hầu hết con người. Quan điểm của tôi không phải cho rằng động vật nhân đạo hơn con người, nhưng điều này có một bằng chứng rằng động vật có thể hành động theo những cách mà không chứng minh bằng những khuôn mẫu nhất định của phương Tây về năng lực của chúng.
12/02/2012(Xem: 12664)
Có một ông phú hộ kia rất giàu có, nhưng ông không có hạnh phúc. Một hôm ông tuyên bố với mọi người rằng, ông có một viên ngọc quý báu nhất trong gia tài của mình, và ông hứa sẽ tặng cho người nào có thể chỉ cho ông biết cách làm sao để có hạnh phúc. Nhưng vẫn không ai có thể trả lời được câu hỏi ấy cho ông. Một hôm, có người nói với ông rằng có một vị đạo sĩ sống trên một ngọn đồi nọ, tuy ông ta sống một mình nhưng rất an lạc, nếu ông tìm đến hỏi thì có lẽ vị đạo sĩ ấy sẽ chỉ cho ông cách nào để có được hạnh phúc.
11/02/2012(Xem: 13853)
Gần đây, một tạp chí Phật Học có đăng thư một độc giả hỏi vị giáo thọ phụ trách, "Tôi vừa mới được quy y và bắt đầu học Phật, tôi thấy con đường này mênh mông quá. Tôi có một khó khăn là không biết mình nên bắt đầu từ nơi đâu đây? Những giáo lý về sanh diệt, tác ý, nghiệp quả, duyên sinh... cái nào cũng rất là quan trọng và cần thiết. Và tôi cũng được hướng dẫn ngồi thiền. Nhưng ngoài chiếc gối ngồi thiền ra, ta phải bắt đầu ở nơi đâu đây?"
05/02/2012(Xem: 10531)
Niệm Phật tức là tham thiền không phải hai pháp, ngay lúc niệm Phật, trước tiên phải buông bỏ hết thảy các thứ vọng niệm, tạp loạn phiền não, tham, sân, si...
05/02/2012(Xem: 12808)
Tất cả mọi người, mọi loài, mọi thứ trên hành tinh này đều đi về phía chết, phía không tìm, phía mà khi đang sống không mấy ai quan tâm. Trái đất không là ngoại lệ dù nó to lớn dềnh dàng đến đâu và quay tít như thế, cho dù sự đi về của nó vượt ngoài thời gian hạn hẹp, ngoài phạm vi hiểu biết của con người nhưng nó cũng phải đi về trên hành trình, quy luật của nó, không mảy may sai khác. Loài người không sinh ra trái đất nhưng có thể hủy hoại, giết chết trái đất. Loài người cũng có thể cứu sống trái đất, giúp trái đất trường thọ hơn, như đứa con hiếu thảo giúp bà mẹ vĩ đại của mình vượt trở ngại, ốm đau, bệnh tật; giúp trái đất xanh hơn, của để dành tươi tốt, ấm cúng yên bình, chốn dung thân các thế hệ kế tiếp của hằng ngàn ngàn sau. Đừng là những đứa con hư, cướp bóc, tàn phá mẹ mình đến khánh kiệt sức lực, tàn úa vì dục vọng hư huyễn, nhu cầu thái quá của chính mình.
04/02/2012(Xem: 16700)
"Giữ chánh niệm." "Sống trong giây phút hiện tại." "Chú ý đơn thuần." Trên con đường tu học, chắc chúng ta đều có nghe vềnhững lời khuyên này. Và nếu bạn có kinh nghiệm về thực tập thiền quán, những câu ấy là một tiếng chuông nhắc nhở chúng ta từ sáng đến khuya, rằng ta có thể tìm thấy tất cả những gì là chân thật ngay trong giờ phút hiện tại này.
04/02/2012(Xem: 16272)
Từ nhiều năm nay, Christian Maes đã đưalên mạng Internet (http://majjhima.perso.neuf.fr/) một tuyển tập dịch thuật gồm những bài kinh chọn lọctrong bộ Trung A Hàm(Majjhima Nikaya) tức là "Các bài thuyết giảng có chiều dài trung bình"và cũng là một trong số các bộ Kinh quan trọng nhất của Phật giáo nguyên thủy.