II.

11/03/201104:02(Xem: 12278)
II.

NHỮNG GIAI THOẠI HUYỀN BÍ
Nguyễn Hữu Kiệt dịch, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính

CHƯƠNG CHÍN: VIẾNG THĂM TÍCH LAN

II.

Nói về khả năng tiên tri, tôi nghĩ rằng có lẽ tôi cũng có đôi chút khi tôi viết trong nhật ký của tôi câu này một ngày trước khi đến hải cảng Colombo: “Còn phải đương đầu với những trách nhiệm mới mẻ và lớn lao: những vấn đề quan trọng độc đáo còn tùy thuộc nơi kết quả của chuyến đi này.”

Thật không có gì đúng hơn nữa! Chúng tôi bỏ neo ngoài khơi cảng Colombo vào sáng ngày 16 tháng 5, và sau đó một lúc, một chiếc tàu nhỏ tiến đến cặp vào hông tàu, có chở theo Đại đức Megittuwatte Gunananda và vài nhà sư trẻ trong tu viện Phật giáo của ông đến đón chúng tôi. Đại đức Megittuwatte tuổi độ trung niên, râu tóc cạo sạch, vóc dáng trung bình, trán cao, mắt sáng, miệng rộng, có tác phong đầy tự tin và dáng người rất nhanh nhẹn.

Không như những nhà sư khác có vẻ trầm tư, mắt thường nhìn xuống đất khi nói chuyện, Đại đức thường ngang nhiên nhìn thẳng vào mắt người đối thoại. Ông là nhà diễn giả hùng biện, ăn to nói lớn nhất trong các giới lãnh đạo Phật giáo ở xứ này, và là một mối kinh hoàng, nể sợ đối với các nhà truyền giáo Gia Tô. Vừa nhìn thấy ông, người ta biết ngay ông là một nhà tranh luận hơn là một tu sĩ khổ hạnh. Trong nhiều năm, ông là nhà lãnh tụ táo bạo, xuất chúng và có uy thế mạnh mẽ nhất của Phật giáo Tích Lan, và hiện nay là lãnh tụ phong trào phục hưng Phật giáo tại xứ này.

Sau khi chào hỏi chúng tôi một cách đặc biệt thân tình và nồng hậu, Đại đức yêu cầu chúng tôi cứ tiếp tục ở trên tàu để đi tới hải cảng Galle, tại đây đã có sắp đặt mọi việc để dành cho chúng tôi một cuộc tiếp đón quan trọng, còn Đại đức sẽ đích thân đáp xe hỏa đi Galle ngay chiều hôm đó.

Rạng sáng hôm sau, chúng tôi đã ở ngoài khơi hải cảng Galle. Tàu bỏ neo ngoài khơi, cách bờ độ năm trăm thước, chúng tôi bước xuống một chiếc thuyền lớn được trang hoàng lịch sự, kết hoa sặc sỡ, trên đó có các vị chức sắc Phật giáo cao cấp đến đón chúng tôi. Trên bến tàu và dọc theo bãi biển, một đám đông quần chúng khổng lồ đã đợi sẵn, chờ chúng tôi đến, và đồng thanh hô to khẩu hiệu chào mừng: “Sahdu! Sahdu!” vang cả một góc trời!

Một khoảng đường được lót bằng vải trắng từ những bậc tam cấp ven bờ biển đưa lên mặt đường lộ, tại đây đã có xe chờ sẵn, và muôn nghìn lá cờ được phất lên một cách nhiệt tình để nghênh đón chúng tôi. Quần chúng vây quanh và đi theo đoàn xe, cuộc diễu hành trực chỉ nơi trú quán dành sẵn cho chúng tôi là biệt thự của bà Wijeratne, quả phụ của một nhà thầu tỷ phú tại Galle.

Khi đến nhà, có ba vị sư trưởng đón tiếp và ban ân huệ cho chúng tôi tại ngưỡng cửa, miệng lẩm nhẩm đọc kinh chúc lành bằng thổ ngữ Nam Phạn (Pli). Kế đó, chúng tôi có một buổi hội kiến với các nhân vật địa phương và vô số quan khách đến chào mừng.

Bà Wijeratne và con trai bà lo săn sóc phục dịch chúng tôi một cách chu đáo tận tình. Trên các bàn lớn giữa nhà luôn luôn có đầy những mâm kẹo bánh, thực phẩm ngon lành và hoa quả, trái cây tươi ngon cỡ thượng hạng không đâu s ánh kịp. Chốc chốc lại có thêm một cuộc diễu hành mới, gồm các phái đoàn sư sãi áo vàng, sắp đặt theo thứ tự thâm niên của họ kể từ khi xuất gia, tuần tự đến viếng và chúc lành chúng tôi.

Thật là một kinh nghiệm độc đáo, một điềm triệu tốt lành rực rỡ mở màn cho những mối quan hệ tương lai của chúng tôi với xứ này. Trong thời gian sau đó, luôn luôn chúng tôi có khách đến viếng đầy nhà và vãng lai không ngớt suốt ngày, ngày nào cũng như ngày ấy.

Những cuộc thảo luận về đạo lý vẫn tiếp diễn không ngừng với vị sư trưởng cao niên Bulatgama Sumanatissa và với những nhà sư thông thái khác. Do sự sắp đặt của Ban tổ chức, tôi có một bài thuyết trình trước công chúng vào ngày 22 về Thông thiên học, với số cử tọa đông đảo chật ních cả hội trường. Ngoài phái đoàn của chúng tôi còn có đủ mặt tất cả các sư trưởng và chức sắc của nhiều chi phái Phật giáo đến dự thính.

Cuộc thăm viếng này của chúng tôi là bước khởi đầu giai đoạn thứ nhì của phong trào phục hưng Phật giáo do Đại đức Megittuwatte khởi xướng trước đây. Đó là một phong trào nhằm mục đích qui tụ toàn thể giới thanh thiếu niên Tích Lan vào những trường học Phật giáo.

Tờ thông tri dưới đây do bạn Damodar chính thức công bố cho thấy những bước đầu tiên do chúng tôi thực hiện để đưa đến việc thành lập những Chi hội Thông thiên học trên đảo Tích Lan.

“THÔNG TRI

Một cuộc hội họp sẽ được tổ chức vào chiều thứ hai tới đây tại Minuvengoda lúc 20 giờ. Trong dịp này, Đại tá Olcott sẽ trình bày về những mục đích của Hội Thông thiên học. Sau đó, quý vị nào muốn gia nhập Hội có thể ghi tên.

Galle, ngày 22 tháng 5 năm 1880

(Thừa lệnh)

Damodar K. Mavalankar

Phó Tổng Thư Ký Hội Thông Thiên Học”

Cuộc hội họp ấy do vị Sư trưởng Bulatgama chủ tọa, và Đại đức Megittuwatte khai mạc bằng một bài diễn văn hùng hồn làm khích động lòng người.

Ngày hôm sau, có mười một người đầu tiên được tôi thâu nhận vào hàng ngũ hội viên, và cùng với họ, tôi tổ chức Chi hội Thông thiên học tại Galle.

Thế rồi bắt đầu một cuộc hành trình dài hạn để viếng thăm nhiều thành phố khác nhau ở các vùng địa phương trên đảo. Những sự việc đã xảy ra tại Galle lại tái diễn ở các nơi khác: những cuộc tiếp đón long trọng; những sự vui mừng nồng nhiệt của quần chúng; những buổi nói chuyện trước những cử tọa đông đảo, thường có đến vài ngàn người; những cuộc viếng thăm các tu viện, chùa chiền, bàn luận giáo lý với các vị sư trưởng và các vị sư tăng ưu tú lỗi lạc, v.v...

Với đà diễn biến đó, dần dần tôi thành lập được các Chi hội Thông thiên học tại Colombo với 27 hội viên; Chi hội Kandy với 17 hội viên; các Chi hội Lanka, Bentota (23 hội viên), Welitara, Panadure, Matara, v.v...

Ngoài ra, tôi còn nhận được hàng chục thư mời đến viếng những làng mạc xa xôi ở các vùng quê hẻo lánh. Thế là, sau cuộc viếng thăm các thành phố lớn, tôi bắt đầu đi thăm viếng các vùng làng mạc và thôn quê.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/07/2011(Xem: 20112)
Ngài giáng sinh nơi vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini), thành đạo ở Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya), thuyết bài Pháp đầu tiên tại vườn Lộc Uyển (Sarnath) và nhập Niết Bàn tại Câu Thi Na...
09/07/2011(Xem: 18041)
Có lẽ danh từ “Phật đảo“ tôi dùng cho xứ đảo Đài Loan có hơi lạ tai với các bạn, vì từ đó đến giờ ta chỉ nghe nào là “Hải đảo chiều mưa“ hay “Ốc đảo cô đơn“, chứ chưa ai dám dùng từ chứa nhiều cường điệu như thế! Nhưng quả thật là như thế các bạn ạ! Một cụm đảo gần chín mươi chín hòn nhỏ to đủ cỡ, không lấy gì làm lớn cho lắm nằm chơ vơ giữa biển mà đi đến đâu cũng thấy những tượng Phật vĩ đại và Chùa chiền với tầm vóc đáng ngại, nhìn vào phải bái phục khen thầm, ấy là chưa kể tinh thần tu học nghiêm mật và trật tự của Phật tử Đài Loan.
07/07/2011(Xem: 8942)
“Đông du” ngày nay đã trở thành một từ quen thuộc. Không chỉ đối với các nhà thám hiểm, khách du lịch, người khảo sát văn hóa, mà cả những nhà khoa học, nhà triết học.
30/06/2011(Xem: 13493)
Từ ngày tôi được quy y thọ tam quy ngũ giới với Sư phụ tôi, được Người truyền cho Giới Hương đầu tiên trong ba nén hương Giới Định Huệ; đến nay đã gần 14 năm, nhưng tôi chưa bao giờ có nhân duyên được theo Thầy đi hành hương đến một xứ sở nào. Nếu phải nói lý do tại sao? Thôi thì đành dùng tạm bốn chữ “chưa đủ nhân duyên“.
06/05/2011(Xem: 5620)
Kumbhalgarh - Vạn Lý Trường Thành của Ấn Độ Nằm phía tây Ấn Độ, pháo đài Kumbhalgarh là thành trì quan trọng thứ hai dưới triều đại Mewar, được xây dựng từ thế kỷ 15 và mất cả trăm năm để hoàn thành.
04/05/2011(Xem: 4927)
Lâm Tỳ Ni đã từng là nơi mà những nhà chiêm bái học giả như Ngài Pháp Hiền vào thế kỷ thứ V và Ngài Huyền Trang vào thế kỷ thứ VII...
26/04/2011(Xem: 22916)
Những công trình đồ sộ được xây bằng tay, không hề có sự hỗ trợ của máy móc, xe kéo, thậm chí cả dụng cụ kim loại nhưng có sức sống cả ngàn năm
21/03/2011(Xem: 16343)
Ở xứ Tây Tạng, tạo hóa và dân sự dường như bảo nhau mà giữ không cho kẻ lạ bước vào! Núi cao chập chùng lên tận mây xanh có tuyết phủ...
18/03/2011(Xem: 6850)
Đây là một cuốn nhật ký ghi chép cuộc hành trình đi về Ấn Độ để học đạo. Tác giả nhân khi chùa Văn Thù Sư Lợi tổ chức chuyến đi hành hương các Phật tích tại Ấn đã tháp tùng theo...
15/03/2011(Xem: 4823)
Hôm nay là đêm 31-12-2008, chúng tôi chuẩn bị bước sang năm mới tại nhà Ngari Khangtsen. Mọi người tụ họp tại phòng ăn sau khi đã được về phòng của mình ngơi nghỉ lấy sức sau hai ngày đi đường bằng xe buýt. Có nhiều thức ăn đã được quý thầy nấu và dọn sẵn, một bên thức ăn chay và một bên thức ăn mặn. Thầy Kunchok Rabgye là bếp chánh. Thức ăn có súp, cari, cơm chiên, đồ xào, nhưng món nào cũng có nêm cà ri. Tôi có vào nhà bếp xem thì thấy nhà bếp rất đơn sơ. Khi nhận được xà bông rửa chén, quý thầy rất mừng vì xà bông cục nhỏ của Ấn không ra bọt, rất khó cho việc rửa chén bát.