Quyển 26 (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư 10.000 câu của Bác sĩ Hồ Đắc Duy)

23/04/202511:33(Xem: 732)
Quyển 26 (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư 10.000 câu của Bác sĩ Hồ Đắc Duy)


vn map 4

ĐẠI VIỆT SỬ THI

(30 quyển. Tác giả Hồ Đắc Duy)

Chủ đề:  Việt Nam Lịch sử Diễn ca

ĐẠI VIỆT SỬ THI
(30 quyển)
Tác giả: Hồ Đắc Duy






Pháp lập liên bang Đông Dương, các phong trào bình Tây sát Tả

Pháp muốn chia Đông Dương từng mảnh
Việc đầu tiên là đến Trung Hoa
Thiên Tân ký kết nghị hoà (1884)
Bắt tay Trung Quốc, buộc ta hết đường

Rồi quay sang Cao Miên dụ dỗ
Bảo nước này nên phải nghe theo
Đông Dương liên kết lợi nhiều
Pháp quốc bảo trợ nên vào liên bang

Norodom nghe Tây bày chước
Ký vào tờ Hiệp ước Kim Biên (1884)
Từ đây đất nước Cao Miên
Do tay người Pháp nắm quyền quốc gia

Qua Ai Lao đặt toà lãnh sự
Cử Pavie đại sứ lên đường (1887)
Oumkham Vạn Tượng quốc vương
Nghe lời đại sứ đất nhường cho Tây

Kể từ đây, Đông Dương thuộc Pháp
Chúng đem quân trấn áp khắp vùng
Đầm lầy, sơn cốc lục sùng
Ra tay vơ vét vô cùng dã man

Cái "Liên bang Đông Dương" thuộc Pháp
Là ý đồ đã được thực dân
Âm mưu thôn tính lần lần
Cướp quyền, giành đất, tranh phần giữ dân

Không che mắt được dân trong nước
Là những người hiểu được nỗi đau
Chung tiền, góp sức cùng nhau
Khắp nơi hưởng ứng phong trào Văn Thân

Giết giáo dân truy tầm tà đạo
Bởi vì người có đạo tay sai
Nên dân hận bọn theo Tây
Cam lòng cho lũ cướp này chỉ huy

Ở Nam, Ngãi cũng như Bình Định
Đội nghĩa binh chận đánh giáo dân
Giết ngay linh mục Dupont
Porier, chung với Guégran tử hình

Nhiều tín đồ tìm đường tẩu thoát
Bị giết chừng hai vạn giáo dân
Bên Lương, bên Giáo tranh phân
"Nồi da xáo thịt" vì ai đoạn trường?

Người thủ lợi là phường xâm lược
Đào hố sâu ngăn bước hai bên
Nhân dân nào sống được yên
Âm mưu nham hiểm, ngày thêm rõ ràng

Hàm Nghi hoàng đế (1884-1888)
Vua Kiến Phúc, năm Thân tạ thế (1884)
Đưa Ưng Lịch vào thế ngôi vua
Hàm Nghi niên hiệu bây giờ
Tân quân quá trẻ, mới vừa mười ba

Giặc bung ra ngoại ô Hà Nội
Chuẩn bị cho quân đội viễn chinh
Harmand rời khỏi hành dinh
Cử viên trung tá chiếm thành Hải Dương (8/1883)

Nhận được tin Thuận An thất thủ (8/1883)
Quân Nam triều bối rối nhiều hơn
Bichot nhân thể đánh luôn
Ninh Bình thất thủ bỏ đồn trống trơn (1883)

Thành Sơn Tây chiến trường đẫm máu (12/1883)
Pháp ra quân trên sáu pháo thuyền
Trong thành tán lý Kế Viêm
Cũng Lưu Vĩnh Phúc giữ quyền điều binh

Hơn ba ngày giao tranh ác liệt
Trong nội thành cạn hết quân lương
Hơn nghìn quân sĩ tử thương
Kế Viêm hạ lệnh mở đường rút lui

Quân Mãn Thanh theo lời cầu viện
Đã vượt biên tiến đến Bắc Ninh
Cùng ta chuẩn bị chiến tranh
Đào hào, đắp luỹ xây thành cao thêm

Ở dưới quyền Millot thống lĩnh
Đem lữ đoàn thiện chiến đưa sang
Trong tay hoả lực dữ dằn
Trong vòng nửa tháng đánh tràn Thái Nguyên (1884)

Chiếm Bắc Ninh rồi liên tiếp tới
Hưng Hoá xong, tiếp nối Tuyên Quang
Giặc đang hưng phấn nghênh ngang
Quân ta thế yếu vội vàng rút lui

Hoàng Kế Viêm biết thời cơ hết
Theo lệnh vua về Huế trần tình
Để vua hiểu rõ tình hình
Nhiều người thất thế ẩn danh vào rừng

Dù Hoà ước Thiên Tân được ký
Quân Mãn Thanh há lẽ chùn chân
Giúp ta vẫn cứ đưa quân
Phục binh Bắc Lệ giết hơn chục người

Chính phủ Pháp cử ngay sứ giả
Phản kháng Tàu vì đã nuốt lời
Đem quân đi đến các nơi
Ở vùng biên giới Lào Kay, Cao Bằng

Dùng hải quân biểu dương lực lượng
Cho hành quân về hướng Đài Loan
Báo cho Trung Quốc đầu hàng
Nếu không chúng sẽ đánh tràn Kê Lung

Mấy sư đoàn được dùng ứng chiến
Đưa chiến thuyền từ vịnh Hạ Long
Dàn ngang một dãy thần công
Bắn tan dàn pháo Kê Lung trên bờ (8/1884)

Ở Phuớc Châu bấy giờ hỗn loạn
Quân nhà Thanh dàn trận chiến thuyền
Bị ngay chiến hạm tuần duyên
Hải quân của Pháp bắn chìm hết trơn

Vùng Lạng Sơn giặc dồn ào ạt (8/1884)
Đổ quân vào đánh bạt Nam Quan
Cháy nhà bên phía Đồng Đăng
Kỳ Lừa phố chợ tan hoang bấy giờ

Vùng biên giới mịt mờ lửa đạn
Phùng Tử Tài phá tán Lạng Sơn (1885)
Cờ Đen vây ở Tuyên Quang (11-1884)
Giặc Tây đem lính lê dương tiễu trừ

Việc Hàm Nghi lên ngôi hoàng đế (2/8/1884)
Lễ, không trình khâm sứ của Tây
Millot thống tướng liền sai
Gởi tham mưu trưởng đến ngay Nam triều

Buộc triều đình tuân theo cổ lệ
Tổ chức ngay một lễ đăng quang
Sứ thần bên Pháp cử sang
Dành quyền tuyên bố phong vương cho người

De Courcy đi ngay đến Huế
Y muốn vào ở cửa Ngọ Môn
Quan ta nhất định không nhường
Vì nhục quốc thể tổn thương triều đình

De Courcy tức mình ra lệnh
Buộc triều thần phải đến vấn an
Cho mời tất cả các quan
Sang toà khâm sứ để bàn việc dân (1885)

Các đình thần vô vàn phẫn nộ
Trước ý đồ của lũ giặc Tây
Dụ Tôn Thất Thuyết qua đây
Nhân cơ hội đó bắt ngay ông này

Tôn Thất Thuyết là tay dũng lược
Vị đại thần tính trước nguy cơ
Nên ông hạ lệnh bấy giờ
Phải cho chuẩn bị dự trù động quân.

Kinh đô thất thủ

Ngày hai ba tháng Năm Ất Dậu (5/7/1885)
Lúc canh tư hoả pháo dậy trời
Ấy giờ phát lệnh khắp nơi
Tấn công nhất loạt đánh loài ngoại xâm

Thuyết chia quân ra làm hai mặt
Vượt sông Hương vây chặt Toà khâm
Đây là đầu não Pháp quân
Giao Tôn Thất Lễ diệt tan tức thì (1885)

Mặt thứ nhì do Trần Xuân Soạn
Đồn Mang Cá thanh toán thật nhanh
Giặc Tây bị đánh thình lình
Xuống hầm trú ẩn qua đêm kinh hoàng

Lính lê dương từ đồn Mang Cá
Chia ra làm hai ngả tiến binh
Mặt sau đánh cửa Hoà Bình
Bên hông công hãm cửa thành Đông Ba

Chiếm thượng thành tiến qua Lục Bộ
Từ Thượng Tứ đánh tới Ngọ Môn
Dân binh hỗn loạn kinh hồn
Giặc Tây đốt phá chẳng còn lại chi

Từ Tịnh Tâm ngó về Thượng Tứ
Cờ tam tài phất gió tung bay
Tin đưa thất thủ kỳ đài
Vào lúc đúng ngọ trưa ngày hai ba

Giặc phá nhà cướp đi của cải
Đốt Chợ Mới rồi trại Tuyển Phong
Đốt khu Long Võ bộ công
Vào ngay chính điện tấn công Kiền Thành

Phía hữu ngạn Nam binh rút chạy
Vượt qua sông bám lấy Kim Long
Giặc đang ở thế thượng phong
Đem thêm hoả pháo phản công Nam triều

Át tiếng kêu lương dân vô tội
Súng của Tây vang dội đì đùng
Kinh đô lửa cháy hãi hùng
Dòng người tháo chạy đạp chồng lên nhau

Người có tiền cũng như kẻ khổ
Chạy rần rần tìm chỗ chui ra
Người thì theo cửa Đông Ba
Người tuôn xuống ngã An Hoà thoát than

Cửa Thượng Tứ địch quân chiếm mất
Dân lại ùa ra đất Chánh Tây
Leo thành bằng mấy thang giây
Sẩy tay rớt xuống nhiều người chết oan

Nỗi kinh hoàng biết đâu mà kể
Chung quanh mình toàn thấy xác ma
Bên đường kẻ khóc người la
Người thì mất mẹ, người cha chết rồi

Người với người tranh nhau tháo chạy
Hai bên đường nhà cháy ra tro
Qua khúc Gia Hội vạn đò
Dưới sông xác nổi lập lờ thảm thương

Đò đưa qua bên làng Tiên Nộn
Dân chạy ùa đến huyện Phú Vang
An Truyền dân đã đầy tràn
Phú Lương, Mỹ Chánh tìm đàng lánh thân.
Vua Hàm Nghi - linh hồn kháng chiến
Trong khi đó quan quân hộ giá
Vua Hàm Nghi và cả Tam cung
Cẩm y loan giá theo cùng
Hai bên thị vệ nóng lòng phò vua

Qua cửa Hữu, qua vùng Kẻ Vạn
Đoạn tuỳ tùng vừa đến Kim Long
Ông Tường được gọi vào trong
Lệnh bà Từ Dũ sai ông việc này

"Vào nhà Chung, gặp ngay giám mục
Nói với thầy hãy giúp cho ta
Rằng riêng ta muốn nghị hoà
Với quan thống tướng xem ra nên làm"

Ở giữa đàng gặp nhằm sóng gió
Đành hướng về Thiên Mụ dừng chân
Kinh đô mấy dặm xa dần
Tường cùng mấy kẻ lùi dần phía sau

Trước nỗi đau nhà tan cửa nát
Giặc hung tàn xã tắc lâm nguy
Bọn Tây chiếm hãm thành trì
Băng miền tếch dặm ra đi Sơn Phòng

Khi Tam cung đến thôn Văn Xá
Thuyết theo đoàn ngự giá cùng đi
Gặp nhau trước ở Tràng Thi
Vội vàng tôi chúa kể chi nhọc nhằn

Bước gian nan xuôi đàng Quảng Trị
Ngày hai bốn (24) tạm nghỉ nơi đây
Đức vua chiếu chỉ viết ngay
Thưa cùng thái hậu nên quay trở về

Kẻo đường đi mịt mờ khe núi
Chốn rừng xanh lắm nỗi truân chuyên
Chim kêu, vượn hú sóng duềnh
Hổ lang đón nẻo kề bên vệ đường

Nẻo Sơn Phòng mây vương trước mặt
Hận quân thù cửa nát nhà tan
Rừng già, gió chướng, sơn lam
Đia dầu Mai Lĩnh, Mán Mường quy theo

Ngọn Ấu Sơn cheo leo vực thẳm
Đêm càng khuya càng đẫm hơi sương
Bút ngà thảo dụ Cần Vương
Ra lời hiệu triệu chỉ đường dân hay

Dụ sát Tả bình Tây gởi đến
Cứ như lời theo lệnh Cần Vương
Sĩ phu khắp nước lên đường
Tới miền Hà Tĩnh phò vương diệt thù
 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/11/2022(Xem: 14536)
Tình tự quê hương như là chất liệu để nuôi sống đời mình, nên Hòa Thượng Tuệ Sỹ chỉ ở đó mà không đi đâu hết. Sinh ra giữa lòng đất Mẹ, chắc một ngày mai kia có chết, thì chết trong giữa lòng đất mẹ ấy, mà đã không ra đi như bao người đã ra đi. Có lẽ sinh ra nơi nào thì chết ở nơi đó. Đây là cái khí khái của bậc Đại Sỹ. Dù quê hương có đọa đầy mưa nắng, thì cũng nguyện là người làm mưa nắng để vun xới cho quê hương được tươi mát.
13/03/2022(Xem: 41209)
Hành hương và chiêm bái Phật tích Ấn Độ là nhân duyên hy hữu và là một ước mơ ngàn đời của người đệ tử Phật trên khắp năm châu bốn bể. Nay ước mơ đó đã đến với Tăng Ni và Phật tử Tu Viện Quảng Đức, Melbourne, Úc Châu. Như chương trình đã sắp đặt trước cả năm, phái đoàn hành hương Ấn Độ gồm 51 người do Tu Viện Quảng Đức tổ chức đã lên đường đúng vào ngày 7-11 năm 2006. Phái đoàn do Đại Đức Phó Trụ Trì Tu Viện Quảng Đức Thích Nguyên Tạng, Sư Cô Hạnh Nguyên và Đạo Hữu An Hậu Tony Thạch (Giám đốc công ty Triumph Tour) hướng dẫn cùng với 38 Phật tử từ Melbourne, 6 từ Sydney, 1 từ Perth và 5 đến từ Texas, Cali, Hoa Kỳ.
09/02/2022(Xem: 35708)
Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam Sử Lược (trọn bộ hai tập, do Hòa Thượng Giới Đức biên soạn)
08/01/2022(Xem: 9640)
Bengal cổ đại là một trung tâm chính của Phật học, nghệ thuật và chủ nghĩa đế quốc; quả thực, đạo Phật là nền tảng của di sản văn hóa và ngôn ngữ của Bengal - bài thơ đầu tiên ở Bengali là Charyapada, được sáng tác bởi Chư tôn thiền đức Tăng già Phật giáo thời bấy giờ. Các Charyapada là tập hợp các bài thơ Thần kỳ, những bài tán thán sự chứng ngộ trong Kim Cương thừa truyền thống của Phật giáo mật tông ở các nơi Assam, Bengal, Bihar và Orissa. Theo các học giả đương đại, thuật ngữ Dharma trong tiếng Bengal có nghĩa là "Bauddha Dharma" (Buddhadharma) hoặc Phật pháp (佛法) và thuật ngữ Dharmapuja có nghĩa là "Buddhapuja". Khi Phật giáo bắt đầu suy tàn ở nhiều nơi khác nhau của Ấn Độ, nơi trú ẩn cuối cùng của Phật giáo là ở Bengal.
08/01/2022(Xem: 11890)
Các trung tâm giáo dục Phật giáo ở Ấn Độ và Sri Lanka như Đại học Phật giáo Nālanda và Đại học Phật giáo Mahāvihāra đã đem lại một nguồn năng lượng trong sự nghiệp giáo dục tuyệt vời. Không chỉ duy trì mạng mạch Phật giáo, các trung tâm giáo dục Phật giáo còn tạo ra một xã hội hòa bình ở hầu hết các quốc gia châu Á trong hơn 25 thế kỷ qua.
04/01/2022(Xem: 15055)
Đại Bảo tháp tại Sanchi được kiến tạo vào thời trị vì của vị minh quân thánh triết Ashoka, nhân vật vĩ đại trong lịch sử của Ấn Độ, vị vua Phật tử hộ trì chính pháp Phật đà, người đã có công trải rộng và phát triển giáo pháp đức Phật trong suốt những năm ông ta trị vì; và luôn luôn mong mỏi được truyền bá khắp 5 Châu 4 bể. Một cấu trúc vòm bằng gạch, được xây dựng theo kiểu mẫu vũ trụ Phật giáo. Xuyên qua tam vòng tròn là một cột trụ vươn lên, qua đỉnh vòm, tượng trưng cho cột đỡ vũ trụ. Trên cùng của nó là 3 đĩa tròn, biểu thị Tam bảo (ba ngôi báu, Phật, Pháp, Tăng), được xem là một trong những khu kiến trúc bằng đá cổ nhất Ấn Độ, những di tích Phật giáo tại Sanchi là những miêu tả kinh điển cho nghệ thuật và kiến trúc của triều đại Maurya dưới hình thức Bảo tháp (Stupa), những ngôi tự viện linh thiêng của đạo Phật.
31/03/2021(Xem: 21797)
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
18/01/2021(Xem: 13994)
Trong cộng đồng nhân loại, bất cứ chủng tộc nào, có tinh thần độc lập, có ý chí tự cường, có lịch sử đấu tranh lâu dài thì chủng tộc đó nhất định có sáng tạo văn hóa để thích ứng với mọi hoàn cảnh địa lý, với những điều kiện thực tế để tự cường, sinh tồn và phát triển. Dân tộc Việt Nam là một chủng tộc có ngôn ngữ riêng biệt thuần nhất, có nền văn hóa nhân bản đặc thù, siêu việt và nền văn hóa này có khả năng chuyển hóa, dung hợp tinh ba của tất cả nền văn hóa nhân loại biến thành chất liệu sống và ý nghĩa sự sống bồi dưỡng cho sanh mệnh dân tộc mang tánh chất Rồng Tiên nẩy nở phát triển và trường tồn bất diệt trải dài lịch sử hơn bốn ngàn năm văn hiến kể từ khi lập quốc cho đến ngày nay. Đặc tánh Rồng Tiên, theo Hai Ngàn Năm Việt Nam Và Phật Giáo của Lý Khôi Việt, trang 51 giải thích: Rồng tượng trưng cho hùng tráng dũng mãnh tung hoành, Tiên biểu tượng cho thanh thoát cao quý, hòa điệu. Vì có khả năng chuyển hóa và dung hợp của nền văn hóa Việt Tộc (Chủng Tộc Việt Nam), dân tộc Việ
13/09/2020(Xem: 20389)
Thiền viện tọa lạc dưới chân núi Bạch Mã, khu vực hồ Truồi, xã Lộc Hòa, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ở độ cao 1.450m, cách biển Đông 5km đường chim bay, nhiệt độ trung bình 200C, Bạch Mã là nơi có khí hậu mát mẻ, lý tưởng cho việc tu tập của Tăng, Ni, Phật tử và các chuyến tham quan, chiêm bái của du khách. Tên thiền viện lấy theo tên núi Bạch Mã. Chữ “Trúc Lâm” hàm ý đến dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, một dòng thiền mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và mang tính nhập thế.
13/02/2020(Xem: 14352)
Sau khi Đức Phật thành đạo, ánh sáng giác ngộ của Ngài đã chiếu khắp mọi nơi, hàng vạn người dân Ấn, từ sĩ, nông, công, thương, mọi tầng lớp của xã hội Ấn đều thừa hưởng được kết quả giác ngộ của Ngài. Đến cuối đời của Ngài, Chánh pháp đã có mặt ở khắp Ấn Độ và lan tỏa đến các quốc gia láng giềng. Từ hạ lưu của sông Hằng đi về phía Đông, phía Nam tới bờ sông Caodaveri, phía Tây tới bờ biển Á-rập, phía Bắc tới khu vực Thaiysiro, đâu đâu cũng có sự ảnh hưởng của giáo lý Phật-đà, và người dân nơi ấy sống trong sự hòa bình và hạnh phúc. Trong triều đại của Hoàng Đế Asoka thuộc Vương Triều Maurya (thế kỷ thứ III trước TL), Phật giáo đã bắt đầu truyền bá sang các vùng biên giới của đại lục.