Quyển 28

25/01/201509:28(Xem: 3983)
Quyển 28

ĐẠI VIỆT SỬ THI

(30 quyển)

Chủ đề:  Việt Nam Lịch sử Diễn ca

Tác giả: BS. Hồ Đắc Duy

 

QUYỂN 28

THÀNH THÁI HOÀNG ĐẾ (1889- 1907)
 
Năm Mậu Tý(1888) dễ bề cai trị
Cơ Mật theo chỉ thị Tòa Khâm
Văn Cương cố ý dịch lầm
Phong cho hoàng tử Bảo Lân nắm quyền
 
Lễ đăng quan đầu năm Tân Sửu (1889)
Hiệu Thành Thái : hòang tử Bảo Lân
Hoàng bào đai ngọc tân quân
Duyệt qua sứ bộ, quần thần hai bên
 
Viện Cơ Mật nắm quyền quốc sự
Nhưng thực ra trú sứ của Tây
Nắm quyền quyết định trong tay
Viện kia là chỉ để bày cho vui
 
Mười tám năm trên ngôi hoàng đế
Vua ngẫm suy thời thế biết bao
Việc nhà, việc nước, việc dân
Chức vua có nghĩa : giam thân đời mình
 
Vua du hành để mong nhìn thấy
Cảnh nước nhà nát bấy ra sao
Ngấm ngầm tổ chức mưu cao
Lập ra kế hoạch đối đầu với Tây
 
Vua thường bày những trò quái đản
Đánh lừa Tây cùng lũ tay sai
Giả điên, giả điếc, giả cười
Giả người ngốc nghếch coi đời bằng vung
 
Ở trong cung ngấm ngầm tổ chức
Lựa nữ binh cho tập kiếm cung
Tâp tành gian khổ vô cùng
Làm quân hậu bị đem dùng về sau
 
Súng đồng bỏ khi giao Tân Sở
Cho chuyển về để ở Lò Vôi
Nung ra đúc súng mà chơi
Nghi ngờ , Khâm sứ cho người dò la
 
Những dấu hiệu xem ra rõ nét
Vua Thành Thái cương quyết đổi thay
Bác lời Quan Sứ thẳng tay
Thượng Thư Bộ Lại, đuổi ngay ông này
 
Mưu của vua chẳng may bại lộ
Trương như Cuơng đi tố chuyện nầy
Levecque khâm sứ mới hay
Bàng hoàng chưa biết việc này tính sao
 
Khắp cả nước cao trào nổ dậy
Muôn vạn người đã thấy thực dân
Toàn là một lũ ác nhân
Kéo theo Đề Thám xin làm nghĩa binh

(Tiếp theo) QUYỂN 28

ĐỀ THÁM - NGHĨA QUÂN YÊN THẾ
 
Hùm Yên Thế dụng binh du kích
Đòn bất ngờ, đón địch sau lưng
 
Khiến cho giặc Pháp vô cùng
Hoang mang lo sợ khó lòng ngồi yên
Verlesco làm tay thuyết khách
Lên Yên Thế tìm cách nghị hòa
 
Thư đưa, Đề Thám xem qua
Ông ta chấp thuận , quân ta đang còn
Lực lượng ta hiện đang yếu thế  
Cần kiện toàn vị trí đóng quân
 
Muốn nhanh cần có thời gian
Để quân luyên tập vững vàng mới hay
Nếu đánh mãi lâu ngày lực cạn
Ắt phải cần tính toán điều nghiên
 
Tương quan giữa địch và mình
Tạm thời hòa hoãn dưỡng binh , bố phòng
Bọn giặc Pháp đem lòng tráo trở
Mới hai năm đã trổ mòi ra
 
Điều binh định đánh quân ta
Ý đồ của địch lộ ra nguyên hình
Chia hai đội, tách riêng chủ lực
Diệt chốt đồn, cắt đứt giao liên
 
Đón đường phục kích triền miên
Lần này Pháp lại đòi xin giảng hòa
Mười năm rồi can qua, hưu chiến
Ông đã có điều kiện hưng binh
 
Chinh quy sắp xếp đội hình
Vạch ra chiến thuật giúp mình thành công
Đánh Nghĩa Hưng cho người tổ chức
Cài quân vào khu vực Thăng Long
 
Bỏ ngay độc dược vào trong
Thức ăn của giặc, giết chung cả nghìn
Vụ đầu độc gây nên chấn động
Từ Nam Triều cho đến Paris
 
Pháp cho thống sứ Bắc Kỳ
Điều tra , tiếp gởi quân đi tiểu trừ
Quân vạn rưỡi (15.000) chia từ nhiều ngã
Tổng chỉ huy đại tá Batay
 
Lê Hoan theo cánh phía tây
Tiến vào Yên Thế bao vây khắp vùng
Hơn một năm tấn công cứ điểm
Phía nghĩa quyền biến khôn lường
 
Bám đất, chống trả đối phương
Về sau thế cạn tìm đường rút lui
Đám dân binh lần hồi tan rã
Vũ khí ta thì quá thô sơ
 
Cạn lương, hết đạn bấy giờ
Ông cho giải tán để chờ thời cơ
Ba vạn Franc (30.000Ffrs) thưởng cho ai bắt  
Hoặc kẻ nào dụ được ông ta
 
Tam Kỳ mưu hiểm dò la
Bắn ngay chủ tướng, thực là khốn thay !
Dùng ngòi bút để thay vũ khí
Mặt trận này khiếp vía thực dân
 
Lột trần mặt nạ giã nhân
Quốc hồn, nghĩa nước góp phần xướng lên
Làng Vị Xuyên có người Mặt Trái
Đỗ tú tài tên gọi Tú Xương
 
Nho sinh gặp buổi nhiễu nhương
Giặc đang dày xéo quê hương của mình
Dùng ngòi bút tài tình độc đáo
Vẻ cảnh đời soi thấu dã tâm
 
Của tuồng quan lại thực dân
Buông lời trào phúng tả chân diễu đời :
"Một đàn thằng ngỏng đứng mà trông
Nó đỗ khoa này có sướng không
 
Trên ghế, bà đầm nhoi đít vịt
Dưới sân, ông cử ngỏng đầu rồng"
"Tri phủ Xuân Thường được mấy niên
Nhờ trời hạt ấy vẫn bình yên
 
Chữ Y, chữ Chiếu không phê đến
Ông chỉ phê ngay một chữ Tiền"
Phê bình thế sự đảo điên
Bóc trần tất cả tim đen bọn này
 
Phan Bội Châu ở ngay Nghệ Tĩnh
Năm Quý Mão (1903) yết kiến Phúc Dân
Cùng nhau tính chuyện nghĩa nhân
Đông Du khơi dậy tiếng gần đồn xa
 
Đưa Cường Để đi qua Hương Cảng
Đến Phù Tang tới mạn Hoành Tân
Học sinh trong nước đưa lần
Sang qua Nhật Bản học dần từng môn
 
Từ chính trị, việc quân, kỹ thuật
Đào tạo sao cho thật tới nơi
Để mai đất nước cần người
Có ngay trừ bị có người chuyên môn
 
Nhưng Nhật Bản thông đồng với Pháp
NămTân Dậu (1909) giải tán Đông Du
Trục xuất ngay vị cầm đầu
Tiên sinh đành phải lao đao một thời
 
Vị thủ lĩnh thành người thất thế
Pháp nhờ tay đế chế Trung Hoa
Bắt người khi tạt ngang qua
Quảng Châu Trung Quốc , đưa ra hầu tòa
 
Ở trong nước vua ta Thành Thái
Đã ra mặt chống lại bọn Tây
Sĩ phu trong nước chung tay
Hô hào dân chúng tẩy chay lủ này
 
Trước bối cảnh quá gay như thế
Pháp chọn đường hạ bệ vua ta
Đôi lần Thành Thái nói ra
Trong khi ngự bến Bắc Hà thăm dân :
 
"Cầm hồ đoạt sáo nhơn an tại
Thùy vị giang sơn tiểu uế tinh"
Câu này làm Pháp giật mình
Buộc vua thoái vị, ngôi dành cho con

(Tiếp theo) QUYỂN 28

DUY TÂN HOÀNG ĐẾ  (1907- 1916)
 
Đưa Duy Tân lên ngôi hoàng đế
Pháp đặt quan giám chế canh chừng
Như Cương, Cao Khải được lòng
Của viên khâm sứ, tháp tùng bên vua
 
Việc đẩy đưa Vĩnh San hoàng tử
Lúc đăng quang mới tám tuổi ngoài
Mười năm ngồi ở trên ngai
Quyền uy chẳng có, đóng vai bù nhìn
 
Nhói trong tim, nghe tin Thành Thái
Bị sinh cầm đày ải đi xa
Đau lòng trước cảnh quốc gia
Non sông gấm vóc giặc qua chiếm rồi
 
Đất Nam Kỳ là nơi thuộc địa
Cũng có nhiều nhân sĩ vì dân
Như Trần Chánh Chiếu, An Khương
Lập nên cơ sở Minh Tâm giúp người
 
Lầu Nam Trung , vốn nơi khách sạn
Làm bản doanh kết bạn muôn người
Cử đi du học nhân tài
Cho sang bên Nhật trau dồi kiến văn
 
Đất Bắc Kỳ ở gần Trung Quốc
Nên thông tin mỗi lúc mỗi nhiều
Viết lách thì có Khải Siêu
Quốc hồn khơi dậy lắm điều hay ho
 
Sách dạy cho dân giàu nước mạnh
Chuộng thực hành xa lánh từ chương
Học thêm khoa học tinh tường
Nâng cao kỹ thuật tính đường đầu tư
 
Lập trường tư Đông Kinh Nghĩa Thục
Qui tụ về mấy chục sĩ phu
Phong trào đổi mới Đông Du
Nguyễn Quyền, Bá Trạc khai mào xướng lên
 
Hoàng Tăng Bí vang trên thương giới
Đông Thành Hưng mở lối khuếch trương
Kinh tài hậu thuẫn khôn ngoan
Cho trường Nghĩa Thục còn đang thiếu tiền
 
Phan Châu Trinh ở miền Tây Lộc
Huyện Hà Đông tỉnh thuộc Quảng Nam
Thấy dân đói rách lầm than
Sưu quan thuế nặng lang thang không nhà
 
Cổ động ra phong trào Tiễn Phát
Biểu tình đòi giảm bớt thuế sưu
Đánh thức một số sĩ phu
Công kích chống bọn hủ nho quan trường
 
Trần Qúy Cáp vạch đường Cách Mạng
Làng Bát Nhi thuộc trấn Quảng Nam
Đỗ khoa tiến sĩ Giáp Thìn (1904)
Giữ chân giáo thọ Thăng Bình - Phú Yên
 
Giục dân đen vùng lên chống thuế
Bị thực dân chém xẻ ngang lưng
Việc gây phẫn uất vô cùng
Làm dân cả nước rùng rùng đứng lên
 
Trần Quý Cáp rồi Huỳnh Thúc Kháng
Bạn đồng khoa vào tận trường thi
"Chí Thành Thông Thánh" đề ghi
Nộp ngay một quyển nhắn nhe với người
 
Tỉnh hồn nước gọi đời thức dậy
Phải nhìn ra để thấy năm châu
Dân quyền kế sách hàng đầu
Mở trường, lập hội phải mau kịp thời
 
Bỏ nếp cũ khuyên người tự lập
Lo tự cường hãy gấp nhanh đi
Chớ mong ngoại quốc làm gì
Tự mình cứu lấy đợi chi người ngoài
 
Theo chủ trương của người Ấn Độ
Bất bạo động, là lối đấu tranh
Đình công, bãi khóa, biểu tình
Hô hào dân chủ liên minh ba miền
 
Phan Châu Trinh bôn ba khắp chốn
Giương ngọn cờ bình đẳng dân quyền
Thực dân bảo hộ phát điên
Chúng liền hạ lệnh giam riêng cụ này
 
Năm Canh Tuất (1910) nhân ngày đại xá
Hội Nhân Quyền tại Pháp đệ đơn
Yêu cầu thủ tướng Raymond
Tự do phải trả cho ông Tây Hồ
 
Khi Đông Du bắc đầu tan rã
Phan Bội Châu cũng đã bị giam
AⵠChâu thế chiến lan tràn
Quân Đức thắng thế, Pháp càng lo âu
 
Ơ chính quốc sắp đầu hàng giặc
Quân bảo hộ cố nắm lấy quyền
Truy lùng khủng bố liên miên
Thẳng tay đàn áp dân miền trong nam
 
Cả toàn dân mong cho vận nước
Gặp thời cơ để được nói lên
Dân sinh, dân chủ, dân quyền
Tự do, độc lập giữ nguyên cõi bờ
 
Tăng Bạt Hổ quân cơ ngày trước
Đặng Tử Kinh, người bước đi theo
Sĩ phu mỗi lúc mỗi nhiều
Thiền sư Thiện Quảng cũng theo về cùng
 
Dân cả nước nóng lòng chờ đợi
Cách Mạng rồi sẽ tới nay mai
Giặc Tây cho lũ tay sai
Tìm cách trấn áp những người chủ mưu  
 
Đỗ Chân Thiết nhà nho xứ Bắc
Người Thịnh Hào ở đất Hà Đông
Nhiệt thành yêu nước đến cùng
Với nhiều đồng chí đã hùn với nhau
 
Vốn đầu tư Đông kinh Nghĩa Thục
Giúp nhân tài những lúc khó khăn
Về sau bị lũ Việt gian  
Báo cho mật thám bắt giam vào tù
 
Giặc tung kế hỏa mù chia rẽ
Ở triều đình nhiều kẻ hám danh
Sẵn lòng đem bán rẻ mình
Cho quân cướp nước tung hoành nhiểu nhương.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/11/2022(Xem: 14535)
Tình tự quê hương như là chất liệu để nuôi sống đời mình, nên Hòa Thượng Tuệ Sỹ chỉ ở đó mà không đi đâu hết. Sinh ra giữa lòng đất Mẹ, chắc một ngày mai kia có chết, thì chết trong giữa lòng đất mẹ ấy, mà đã không ra đi như bao người đã ra đi. Có lẽ sinh ra nơi nào thì chết ở nơi đó. Đây là cái khí khái của bậc Đại Sỹ. Dù quê hương có đọa đầy mưa nắng, thì cũng nguyện là người làm mưa nắng để vun xới cho quê hương được tươi mát.
13/03/2022(Xem: 41208)
Hành hương và chiêm bái Phật tích Ấn Độ là nhân duyên hy hữu và là một ước mơ ngàn đời của người đệ tử Phật trên khắp năm châu bốn bể. Nay ước mơ đó đã đến với Tăng Ni và Phật tử Tu Viện Quảng Đức, Melbourne, Úc Châu. Như chương trình đã sắp đặt trước cả năm, phái đoàn hành hương Ấn Độ gồm 51 người do Tu Viện Quảng Đức tổ chức đã lên đường đúng vào ngày 7-11 năm 2006. Phái đoàn do Đại Đức Phó Trụ Trì Tu Viện Quảng Đức Thích Nguyên Tạng, Sư Cô Hạnh Nguyên và Đạo Hữu An Hậu Tony Thạch (Giám đốc công ty Triumph Tour) hướng dẫn cùng với 38 Phật tử từ Melbourne, 6 từ Sydney, 1 từ Perth và 5 đến từ Texas, Cali, Hoa Kỳ.
09/02/2022(Xem: 35699)
Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam Sử Lược (trọn bộ hai tập, do Hòa Thượng Giới Đức biên soạn)
08/01/2022(Xem: 9640)
Bengal cổ đại là một trung tâm chính của Phật học, nghệ thuật và chủ nghĩa đế quốc; quả thực, đạo Phật là nền tảng của di sản văn hóa và ngôn ngữ của Bengal - bài thơ đầu tiên ở Bengali là Charyapada, được sáng tác bởi Chư tôn thiền đức Tăng già Phật giáo thời bấy giờ. Các Charyapada là tập hợp các bài thơ Thần kỳ, những bài tán thán sự chứng ngộ trong Kim Cương thừa truyền thống của Phật giáo mật tông ở các nơi Assam, Bengal, Bihar và Orissa. Theo các học giả đương đại, thuật ngữ Dharma trong tiếng Bengal có nghĩa là "Bauddha Dharma" (Buddhadharma) hoặc Phật pháp (佛法) và thuật ngữ Dharmapuja có nghĩa là "Buddhapuja". Khi Phật giáo bắt đầu suy tàn ở nhiều nơi khác nhau của Ấn Độ, nơi trú ẩn cuối cùng của Phật giáo là ở Bengal.
08/01/2022(Xem: 11890)
Các trung tâm giáo dục Phật giáo ở Ấn Độ và Sri Lanka như Đại học Phật giáo Nālanda và Đại học Phật giáo Mahāvihāra đã đem lại một nguồn năng lượng trong sự nghiệp giáo dục tuyệt vời. Không chỉ duy trì mạng mạch Phật giáo, các trung tâm giáo dục Phật giáo còn tạo ra một xã hội hòa bình ở hầu hết các quốc gia châu Á trong hơn 25 thế kỷ qua.
04/01/2022(Xem: 15055)
Đại Bảo tháp tại Sanchi được kiến tạo vào thời trị vì của vị minh quân thánh triết Ashoka, nhân vật vĩ đại trong lịch sử của Ấn Độ, vị vua Phật tử hộ trì chính pháp Phật đà, người đã có công trải rộng và phát triển giáo pháp đức Phật trong suốt những năm ông ta trị vì; và luôn luôn mong mỏi được truyền bá khắp 5 Châu 4 bể. Một cấu trúc vòm bằng gạch, được xây dựng theo kiểu mẫu vũ trụ Phật giáo. Xuyên qua tam vòng tròn là một cột trụ vươn lên, qua đỉnh vòm, tượng trưng cho cột đỡ vũ trụ. Trên cùng của nó là 3 đĩa tròn, biểu thị Tam bảo (ba ngôi báu, Phật, Pháp, Tăng), được xem là một trong những khu kiến trúc bằng đá cổ nhất Ấn Độ, những di tích Phật giáo tại Sanchi là những miêu tả kinh điển cho nghệ thuật và kiến trúc của triều đại Maurya dưới hình thức Bảo tháp (Stupa), những ngôi tự viện linh thiêng của đạo Phật.
31/03/2021(Xem: 21795)
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
18/01/2021(Xem: 13988)
Trong cộng đồng nhân loại, bất cứ chủng tộc nào, có tinh thần độc lập, có ý chí tự cường, có lịch sử đấu tranh lâu dài thì chủng tộc đó nhất định có sáng tạo văn hóa để thích ứng với mọi hoàn cảnh địa lý, với những điều kiện thực tế để tự cường, sinh tồn và phát triển. Dân tộc Việt Nam là một chủng tộc có ngôn ngữ riêng biệt thuần nhất, có nền văn hóa nhân bản đặc thù, siêu việt và nền văn hóa này có khả năng chuyển hóa, dung hợp tinh ba của tất cả nền văn hóa nhân loại biến thành chất liệu sống và ý nghĩa sự sống bồi dưỡng cho sanh mệnh dân tộc mang tánh chất Rồng Tiên nẩy nở phát triển và trường tồn bất diệt trải dài lịch sử hơn bốn ngàn năm văn hiến kể từ khi lập quốc cho đến ngày nay. Đặc tánh Rồng Tiên, theo Hai Ngàn Năm Việt Nam Và Phật Giáo của Lý Khôi Việt, trang 51 giải thích: Rồng tượng trưng cho hùng tráng dũng mãnh tung hoành, Tiên biểu tượng cho thanh thoát cao quý, hòa điệu. Vì có khả năng chuyển hóa và dung hợp của nền văn hóa Việt Tộc (Chủng Tộc Việt Nam), dân tộc Việ
13/09/2020(Xem: 20388)
Thiền viện tọa lạc dưới chân núi Bạch Mã, khu vực hồ Truồi, xã Lộc Hòa, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ở độ cao 1.450m, cách biển Đông 5km đường chim bay, nhiệt độ trung bình 200C, Bạch Mã là nơi có khí hậu mát mẻ, lý tưởng cho việc tu tập của Tăng, Ni, Phật tử và các chuyến tham quan, chiêm bái của du khách. Tên thiền viện lấy theo tên núi Bạch Mã. Chữ “Trúc Lâm” hàm ý đến dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, một dòng thiền mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và mang tính nhập thế.
13/02/2020(Xem: 14352)
Sau khi Đức Phật thành đạo, ánh sáng giác ngộ của Ngài đã chiếu khắp mọi nơi, hàng vạn người dân Ấn, từ sĩ, nông, công, thương, mọi tầng lớp của xã hội Ấn đều thừa hưởng được kết quả giác ngộ của Ngài. Đến cuối đời của Ngài, Chánh pháp đã có mặt ở khắp Ấn Độ và lan tỏa đến các quốc gia láng giềng. Từ hạ lưu của sông Hằng đi về phía Đông, phía Nam tới bờ sông Caodaveri, phía Tây tới bờ biển Á-rập, phía Bắc tới khu vực Thaiysiro, đâu đâu cũng có sự ảnh hưởng của giáo lý Phật-đà, và người dân nơi ấy sống trong sự hòa bình và hạnh phúc. Trong triều đại của Hoàng Đế Asoka thuộc Vương Triều Maurya (thế kỷ thứ III trước TL), Phật giáo đã bắt đầu truyền bá sang các vùng biên giới của đại lục.