Quân nhân Mỹ gốc Việt Hiền Trịnh trên tàu sân bay USS Carl Vinson.

3/7/201811:38(View: 7678)
Quân nhân Mỹ gốc Việt Hiền Trịnh trên tàu sân bay USS Carl Vinson.


       NGÀY CẬP BẾN
Ngày 5-3 là Ngày Cập Bến của chiếc Hàng Không Mẫu Hạm USS Carl Vinson vào cảng Đà Nẵng sau cuộc chiến kết thúc năm 1975 . Muôn triệu người dân Việt hân hoan chào đón . Hoà trong niềm vui đó , con hướng về quê hương và luôn mong hai nước Mỹ Việt càng thêm gắn bó.

Sự nhịp nhàng như mây trời kết nối
Hai bến bờ liên kết hợp cùng nhau
Niềm hân hoan mối giao hảo đón chào
USS Carl Vinson ngày cập bến .

Muôn triệu Việt vui mừng lòng cảm mến
Kết thân tình xoá bỏ vết đau thương
Nối vòng tay (lớn) mở rộng khắp nẻo đường
Bao quá khứ hận thù xin trả lại .

Tôi muốn nói lên lòng cảm khái
Nhìn tương lai Mỹ Việt khắc sâu thêm
Mong hai nước luôn gắn bó vững bền
Tình giao kết tháng năm dài thân thiết .

       Dallas USA , 7-3-2018
                Tánh Thiện


Hien TrinhQuân nhân Mỹ gốc Việt Hiền Trịnh trên tàu sân bay USS Carl Vinson.

Gia đình tôi gồm ba mẹ, năm anh chị em và tôi, khi ấy mới hai tuổi, lên một chiếc tàu đánh cá để chạy khỏi một nơi bất định để tới một nơi bất định khác. Trung tá Hiền Trịnh nói.
Nếu không có sự cứu giúp của hải quân Mỹ và quan trọng hơn là cơ hội ở Hoa Kỳ, tất cả những điều đó có lẽ đã không thể xảy ra.

Một trung tá hải quân Hoa Kỳ gốc Việt có cha từng chiến đấu cho Việt Nam Cộng hòa, nói với VOA tiếng Việt rằng ông “thực sự vui mừng” cùng hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson trở lại Việt Nam, nơi cả gia đình ông từng rời bỏ khi ông mới hai tuổi. Ông Hiền Trịnh nói thêm rằng thời gian đã giúp ông xóa bỏ “cảm xúc tiêu cực” về Việt Nam và dần thay thế bằng “tình yêu mến dành cho văn hóa và người dân ở đó”, đồng thời cho biết rằng ông “rất vui” được trở lại nơi mình sinh ra, trên một trong những chiếc tàu sân bay tốt nhất trên thế giới để là một phần của sự kiện lịch sử trong quan hệ Việt - Mỹ. Mời quý vị theo dõi buổi trò chuyện sau đây giữa VOA tiếng Việt và trung tá Hiền Trịnh, hiện làm trong phòng nha khoa trên USS Carl Vinson.


hien trinh 2


VOA: Ông có thể cho chúng tôi biết đôi chút về nguồn gốc Việt của mình được không?
Trung tá Hiền Trịnh: Tôi sinh ra ở Sài Gòn. Gia đình tôi gốc Hà Nội, nhưng chuyển vào Nam năm 1954 khi Việt Nam đang bị chia cắt.
Bố tôi phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng hòa và đồn trú tại Nhà Bè trong suốt thời kỳ chiến tranh. Ông chỉ huy một đơn vị ở đó. Vì thế, khi Việt Nam Cộng hòa thất thủ năm 1975, chúng tôi phải trốn chạy.
Gia đình tôi gồm ba mẹ, năm anh chị em và tôi, khi ấy mới hai tuổi, lên một chiếc tàu đánh cá để chạy khỏi một nơi bất định để tới một nơi bất định khác.

VOA: Lý do vì sao ông lại quyết định gia nhập hải quân và phục vụ trên USS Carl Vinson? Nhiều quân nhân Mỹ gốc Việt hay nói với chúng tôi rằng họ làm vậy để trả ơn quê hương thứ hai đã đón nhận. Còn ông thì sao?
Trung tá Hiền Trịnh: Tôi cũng có lý do giống như vậy. Như những gì ba mẹ tôi kể, sau khi trốn chạy, chiếc tàu đánh cá của chúng tôi tới được Singapore. Nhưng nước này không nhận người tỵ nạn nên họ lại cho phép chúng tôi ra khơi. Sau đó, chúng tôi may mắn được một tàu hải quân Mỹ phát hiện và đưa tới Vịnh Subic, Wake Island [nằm giữa Honolulu và Guam], Hawaii rồi cuối cùng là trại tị nạn Fort Chaffee ở Arkansas.Sau đó, chúng tôi đã được một nhà thờ Cơ đốc ở Lansing, Michigan, bảo lãnh. Và đó là lúc gia đình tôi bắt đầu Giấc mơ Mỹ. Thoạt đầu, gia đình chúng tôi cũng chật vật, nhưng sau đó anh em chúng tôi đều tốt nghiệp đại học Michigan State University, lập gia đình và thành công trong cuộc sống. Nếu không có sự cứu giúp của hải quân Mỹ và quan trọng hơn là cơ hội ở Hoa Kỳ, tất cả những điều đó có lẽ đã không thể xảy ra.

Tôi đã phục vụ trong hải quân khoảng 15 năm. Tôi từng làm thủy thủ trên ba tàu khác nhau. Tôi muốn làm việc trên Vinson vì muốn đó là đỉnh cao của sự nghiệp của mình và tôi đã không thất vọng. Làm việc trên hàng không mẫu hạm này là trải nghiệp thực sự khác biệt. Thật tuyệt vời khi chứng kiến khối lượng công việc cũng như con người tham gia để vận hành con tàu này.

Chứng kiến những người trẻ tuổi dám đảm nhận trách nhiệm mà những người khác phải rùng mình khiến tôi tin tưởng vào tương lai. Chứng kiến nhiều người thuộc đủ mọi thành phần cùng nhau nỗ lực để hoàn thành nhiệm vụ thực sự truyền cảm hứng cho tôi.

Trong phần còn lại của sự nghiệp của tôi sau chuyến đi lần này, tôi sẽ giảng dạy hoặc điều hành các phòng khám trên bờ, nên tôi muốn chuyến đi này trở thành đỉnh cao của sức mạnh hải quân.



uss carl Vinson-2uss carl Vinson



VOA: Cảm xúc của Trung tá ra sao khi trở lại nơi mình sinh ra? Người thân của ông nói gì về chuyến đi đầu tiên của hàng không mẫu hạm Mỹ tới Việt Nam kể từ những năm 60?
Trung tá Hiền Trịnh: Khoảng 10 năm trước tôi đã trở lại Việt Nam một lần trong chuyến đi tình nguyện với các hoạt động về nha khoa với bạn gái tôi (nay đã trở thành vợ). Và cũng giống như khi ấy, tôi rất vui khi tận mắt chứng kiến những nơi trước đây chỉ tồn tại trong lời kể của cha mẹ tôi.
Tôi từng có lúc có những cảm xúc vui buồn lẫn lộn vì cuộc chiến vẫn còn hằn rõ trong tâm trí cha mẹ tôi và các thành viên khác trong gia đình. Tôi có nhiều thành viên gia đình không sống sót trong cuộc chiến. Nhưng cùng với thời gian, những cảm xúc tiêu cực đó và những điều tôi được dạy đã dần được thay thế bằng tình yêu mến dành cho văn hóa và người dân ở đó.
Còn về chuyến thăm của hàng không mẫu hạm, tôi thực sự vui mừng khi trở thành một phần của sự kiện lịch sử này. Tôi hy vọng nó sẽ mang lại mối quan hệ chân tình và nồng ấm trong nhiều năm tới.

VOA: Ông muốn làm gì nhất khi USS Carl Vinson cập cảng ở Việt Nam?
Trung tá Hiền Trịnh: Đây là câu hỏi dễ trả lời nhất. Tôi muốn ăn, ăn thật nhiều. Tôi nghĩ rằng cách tốt nhất để biết về một nền văn hóa là qua ẩm thực. Tôi thích món ăn Việt Nam vì nó chịu ảnh hưởng của nhiều nước như Trung Quốc, Thái hay Pháp. Và cũng giống như đồ ăn kiểu Cajun ở Mỹ, món ăn Việt Nam hòa trộn hoàn hảo tất cả những ảnh hưởng đó thành những món độc đáo và ngon.

VOA: Ông nghĩ sao về mối quan hệ nồng ấm hiện nay giữa hai quốc gia cựu thù?
Trung tá Hiền Trịnh: Tôi rất vui. Đất nước này còn có nhiều điều mời gọi và tôi rất muốn chia sẻ văn hóa Việt Nam tuyệt vời mà tôi yêu thích với nhiều người nhất có thể. Từ những bãi biển cát trắng tới các ngọn núi tuyệt đẹp, những cánh rừng rậm, các ngôi đền cổ và sự trầm mặc của những ngày đông trên mặt hồ ở Hà Nội. Việt Nam là một nơi đẹp với những con người thân thiện. Tôi hy vọng có thể tới thăm nhiều lần nữa.






Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
1/6/2016(View: 26314)
Có thể nói Phật giáo Việt Nam trong tình hình phát triển hiện nay tuyệt đại bộ phận do sự tác động mạnh mẽ của bảy dòng thiền chính, trong đó bốn dòng trực tiếp kế thừa các dòng thiền từ Trung Quốc và bốn dòng được phát sinh tại đất nước ta. Bốn dòng từ Trung Quốc, nếu dựa vào thứ tự truyền nhập vào Việt Nam là các dòng Bút Tháp của Viên Văn Chuyết Công (1590 – 1644), dòng Thập Tháp của Siêu Bạch Thọ Tông (1648–1728), dòng Quốc Ân của Nguyên Thiều Hoán Bích (1648–1728), cả ba dòng này đều thuộc phái Lâm Tế và dòng Hòe Nhai của Thủy Nguyệt thuộc phái Tào Động. Ba dòng còn lại thì đều xuất phát tại Việt Nam hoặc do kết hợp một dòng từ Trung Quốc như Bút Tháp với một dòng tồn tại lâu đời tại Việt Nam như Trúc Lâm, mà điển hình là dòng Long Động của thiền sư Chân Nguyên Tuệ Đăng (1647–1726) hoặc do các vị thiền sư người Việt Nam hay Trung Quốc hành đạo tại Việt Nam xuất kệ thành lập dòng mới, cụ thể là các dòng thiền Chúc Thánh của thiền sư Minh Hải Pháp Bảo (1670–1746) và Thiên Thai
12/18/2015(View: 25461)
Mười năm kháng chiến chống quân Minh Lê Lợi khởi nghĩa đất Lam Sơn Anh hùng áo vải nêu chí khí Toàn dân hợp lực cứu núi sông
12/18/2015(View: 23843)
Bạch Đằng giang xóa tan ngàn năm Bắc thuộc Vua Ngô Quyền xây dựng thiết lập triều ca Tiếp ngàn xưa bao đời lịch sử Ông Cha Nối ngàn sau Việt Nam non nước một nhà
12/15/2015(View: 30871)
- Tên thật: Triệu Thị Trinh, hoặc Triệu Thị Chinh, Triệu Trịnh Nương, còn có tên: Triệu Ẩu, Nhụy Kiều Tướng Quân, Lệ Hải Bà Vương. - 19 tuổi, thu phục con voi trắng một ngà dữ dằn, phá hại mùa màng, giết hại dân lành. Chính con voi này Bà cỡi mỗi khi ra trận. Cũng năm 19 tuổi này, Bà đã vào rừng lập chiến khu tại Sơn Tùng, hàng ngàn tráng sĩ xin theo, học kỹ chiến thuật, rèn binh bày trận. Và chính nơi đây là Trung tâm cuộc Khởi Nghĩa vào năm 248, thời kỳ Bắc thuộc lần Thứ Hai. - Bà tuẩn tiết ngày 21 tháng 02 năm Mậu Thìn 248 tại Núi Tùng, Thanh Hóa, lúc bấy giờ Bà mới 23 tuổi. - Bà sinh tại huyện Nông Cống, Thanh Hóa. Nhưng về năm sinh, tôi xin đánh dấu hỏi ở đây: Nhiều sử sách bài viết đã ghi nằm trên tủ sách và online trên hệ mạng, rõ ràng rằng: "Triệu Thị Trinh - Bà Triệu (225-248)" ; Lại rõ ràng rằng: "Bà Triệu Thị Trinh sinh ngày 02 tháng 10 năm 226 (Bính Ngọ)". Điểm này xin dành cho những bậc Thức giả và các nhà Sử học.
12/12/2015(View: 23564)
Vua Trần Nhân Tôn Vua Trần Nhân Tôn Đệ nhất quân vương đất trời Nam An dân, an quốc, bình thiên hạ Quốc Tổ, quốc Tông, đã định ban Vua Trần Nhân Tôn Vua Trần Nhân Tôn
9/29/2015(View: 9630)
Những chế độ độc tài chuyên nghiệp như đảng CSVN không hề sơ hãi những cá nhân chống đối. Cái mà họ sợ là những cá nhân kết hợp thành tổ chức (hoặc hội đoàn) để chống đối. Khi người cộng sản khống chế xã hội dân sự qua điều 4 hiến pháp, thì họ không những cấm đoán sự hình thành của những tổ chức độc lập, mà họ còn thành lập những tổ chức cuội, của chính họ, để phô trương một xã hội dân sự giả tạo, và xâm nhập mọi cơ sở kinh tế hay xã hội khác, để kiểm soát và điều hướng.
7/24/2015(View: 10294)
Bài tiểu luận "Ảnh hưởng Phật giáo trong pháp luật triều Lý" đã được viết vào tháng giêng năm 1971 tại Saigon. Tạp chí Từ Quang đã đăng từ số 225 đến 258 (từ tháng 6 đến 9 năm 1974). Tạp chí Từ Quang là Cơ quan truyền bá đạo Phật của Hội Phật Học Nam Việt, trụ sở ở chùa Xá Lợi tại Saigon (bên hông trường Gia Long cũ), do cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền, cố Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hoá thời Đệ Nhị Cộng Hoà miền Nam, làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Sau khi cụ Mai Thọ Truyền qua đời thì cụ Minh Lạc Vũ Văn Phường làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Tôi xin trân trọng cống hiến quý độc giả Đặc San Chánh Giác của Chùa Hoa Nghiêm ở Toronto. Toronto, ngày 01 tháng 04 năm 1991 NVT
7/6/2015(View: 15495)
(Bài này được trích dịch từ tài liệu có tên “Những Giới Hạn Trong Các Vùng Biển” (Limits In The Seas) mang số 143 với tựa đề “Trung Quốc: Tuyên Bố Chủ Quyền Biển Trong Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông)” (China: Maritime Claims In The South China Sea) được Văn Phòng của Vụ Đại Dương và Vùng Cực (Office of Ocean and Polar Affairs), Văn Phòng của Vụ Đại Dương và Môi Trường và Khoa Học Quốc Tế (Bureau of Ocean and International Environmental and Scientific Affairs) của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ (US Department of State) công bố ngày 5 tháng 12 năm 2014 – (Nguồn: http://www.state.gov/documents/organization/234936.pdf ). Mục đích của nghiên cứu này là để xem xét tuyên bố về biển và/hay các biên giới của Bộ Ngoại Giao và đánh giá sự phù hợp với luật quốc tế. Nghiên cứu này đại diện quan điểm của Chính Phủ Hoa Kỳ chỉ đối với những vấn đề đặc biệt được thảo luận trong đó và không nhất thiết phản ảnh sự chấp thuận những giới hạn được tuyên bố. Các phân tích gia chính cho nghiên cứu này là Kevin Baumert
4/19/2015(View: 16603)
Từ Đàm là ngôi chùa cổ mà không cổ. Chùa cổ, nếu tính theo năm sinh, khoảng 1690. Khi chùa khai sinh, Trịnh Nguyễn hãy còn phân tranh, mỗi mái chùa dựng lên ở phương Nam là mỗi bước chân mở đường Nam tiến sống chết của dân tộc.
1/19/2015(View: 10932)
Xin cảm ơn Biển Nhớ đã post lên, thấy hiện trên hệ điện tử toàn cầu "thivien.net" lần thứ nhất: Ngày gởi 08/09/2007 06:13 ; lần sau cùng: Ngày gởi 25/09/2007 08:39. Từ lần thứ nhất tới lần sau cùng, Biển Nhớ đã miệt mài gởi đi, mỗi lần gởi, đoạn cuối lại thường xuyên có hai câu lục bát và chỉ hai câu này thôi: "Tượng thờ dù đổ vẫn thiêng, Miếu thờ bỏ vắng vẫn nguyên miếu thờ". Không đổi bất cứ một câu nào khác và không thêm bất cứ một chữ nào khác. Ở lưng chừng một trang trên hệ mạng "thivien.net", thấy có phần trao đổi một vài vị với nhau, tôi tính không copy xuống, nhưng kéo lên đọc lại lần nữa, có lẽ nên copy để người đọc cũng nên biết. Tự tôi cảm thán mạn phép được viết đôi dòng để chuyển tải đi, chứ không phải ca ngợi tác giả, bởi có lẽ tác giả đâu cần ca ngợi mà Đại Tác Phẩm Trường Thiên ĐẠI VIỆT SỬ THI - 30 quyển - trên dưới 10,000 câu - của Hồ Đắc Duy, Việt Nam Lịch Sử Diễn Ca vốn đã trác tuyệt phi thường, là một tác phẩm văn vần dài nhất của nền văn học Việt Nam.