An Dưỡng, Chùa làng tôi (bài của TT Nguyên Tạng, do Phật tử Quảng Hương và Diệu Danh diễn đọc)

19/09/201317:34(Xem: 36727)
An Dưỡng, Chùa làng tôi (bài của TT Nguyên Tạng, do Phật tử Quảng Hương và Diệu Danh diễn đọc)

chua-an-duong 2


An Dưỡng - chùa làng tôi

Bài viết của TT Thích Nguyên Tạng
Do Phật tử Quảng Hương diễn đọc


Do Phật tử Diệu Danh diễn đọc



Chùa làng dựng ở xóm côi,
Sớm khuya hai buổi nghe hồi chuông ngân.

Không biết tự khi nào, tôi đã lớn lên trong tiếng chuông chùa làng, cùng lời kinh nhịp mõ. Chùa An Dưỡng (xem tiểu sử), ngôi chùa làng, chỉ cách nhà tôi chừng 5 phút đi bộ. Nghe Sư phụ kể lại, chùa được xây dựng vào khoảng từ 1690 đến năm 1708, do công khai sơn của Hòa Thượng Thiệt Phú, người Tàu sang Việt Nam truyền giáo cùng với các thiền sư khác. Trong chuyến đi hoằng pháp vào đàng trong, Ngài đã xây dựng ngôi chùa này. Chùa nằm trên một khu đất cao nhất làng, quanh năm bao phủ một màu xanh biếc của những khóm dừa, những lũy tre làng thân thương.

Chùa làng quê khắc sâu trong ký ức tôi những kỷ niệm đậm đà; nơi đó tôi đã sống, đã khoác lên người màu áo đà hoại sắc, đã thơ ngây với tuổi đạo ban đầu, nhưng sắt son trong ý thức!

Rồi thời gian trôi qua, các pháp duyên khởi, tất cả hữu tình, vô tình đi vào sinh diệt, chợt biến chợt hóa, mất còn, lay động. Tôi, cái tôi của ngày xưa giờ vẫn còn, nhưng cũng có thể nói đã mất! Tôi muốn nhắc đến kỷ niệm, tôi muốn nói đến cảnh giới vô thường, quốc độ biến dị. Và chùa tôi cũng không nằm ngoài quy luật ấy.

Theo lời sư phụ kể, trước kia chùa tọa lạc cách vị trí hiện nay về hướng đông khoảng 50m và không rõ chùa được di dời như vậy từ bao giờ, lại được trùng tu mấy lần; chỉ biết chùa được tái tạo vào năm 1893 tức niên hiệu Thành Thái thứ V. Khoảng năm 1938 thời Bảo Đại năm thứ 3, chùa được trùng tu lần nữa; đến năm 1974 thì chùa bị hư nát khá nặng nên Thượng Tọa Thích Như Ý lúc ấy là trụ trì, cùng với Phật tử địa phương đã thực hiện xây lại ngôi Tự viện mới. Công trình này được xây trước mặt tiền và cách ngôi chùa cũ khoảng 7 mét. Vừa xây xong phần nền móng thì bị đình trệ, vì thời cuộc rối ren năm 1975. Mãi tới năm 1985, sư phụ tôi mới đủ duyên khởi công tái xây dựng, và 3 năm sau đã hoàn thành.

Thân tộc tôi có duyên với ngôi chùa này từ nhiều đời, truyền thống ấy vẫn tiếp tục duy trì và đến thế hệ cha mẹ tôi, đỉnh điểm cao nhất là trong gia đình tôi có 3 người con xuất gia đầu Phật. Công đức này phải được kể đến là Bổn Sư chúng tôi Hòa Thượng Thích Như Ý, Người được Phật tử trong làng cung thỉnh về trụ trì năm 1970, dù sau đó ngài cung cử đệ tử của Ngài là Thầy Tâm Như, (một người cùng làng tôi, sau 1975, vị này đã hoàn tục), để chăm sóc chùa, nhưng lãnh đạo tinh thần vẫn là trách nhiệm của Ngài. Mỗi năm đến mùa Phật Đản, Vu Lan đều có những lễ truyền giới quy y, và dân làng tham dự rất đông. Tôi thích nhất là lễ cúng cầu an đầu năm vào rằm tháng giêng với giàn đèn Dược Sư và đèn cầy được xếp theo mô hình Cửu Diệu Tinh Quân (vị trí của 9 ngôi sao trong vũ trụ, 9 ngôi sao này biểu trưng cho sự sống thiện ác của con người dưới bầu trời), được thiết trí trang hoàng trong khóa lễ trông rất đẹp mắt và linh thiêng. Gia đình tôi đã quy y với Hòa Thượng Thích Như Ý hồi năm 1970, tất cả được Người đặt pháp danh bằng chữ Tâm, như Tâm Hưng, Tâm Thái, Tâm Chánh, Tâm Phương, Tâm Vân, Tâm Hương, Tâm Nguyên  [1]....

Hoa Thuong Thich Nhu Y

HT Thích Như Ý
Vị Thầy Bổn Sư của gia đình tác giả


ht tam tri
HT Thích Tâm Trí
Vị Thầy Bổn Sư thứ 2 tác giả

 




Chu Tieu Nguyen Tang 1981

Hình tác giả, Chú Tiểu Nguyên Tạng
(chụp năm 1981)




Đặc biệt trong thời gian này, Gia đình Phật tử An Dưỡng được thành lập, và các anh chị tôi đều tham gia sinh hoạt, trở thành những huynh trưởng đầu đàn của Gia đình. Nhờ được hun đúc, rèn luyện tinh thần “bi, trí, dũng”, “duy tuệ thị nghiệp” lấy trí tuệ làm sự nghiệp... mà sau đó bào huynh Tâm Phương đã phát tâm xuất gia với Hòa Thượng Như Ý tại chùa Linh Sơn. Tôi xuất gia với Thượng Tọa Tâm Trí (Trụ Trì Chùa An Dưỡng từ năm 1975), chị tôi sư cô Thích Nữ Tâm Vân, xuất gia với Sư bà An Tường. Riêng bào huynh Tâm Phương sau khi xuất gia với Hòa Thượng Thích Như Ý, đã về lại Chùa An Dưỡng hỗ trợ với Sư huynh Thích Tâm Trí trong việc hoằng pháp trước khi về Sàigòn, và sau đó tìm đường định cư tại Úc châu.

Sau thời gian trùng tu và ổn định, hiện tại chùa An Dưỡng làng tôi là trung tâm tu học của Phật tử xa gần trong và ngoài tỉnh Khánh Hòa.. Sư phụ tôi đã từng bước tổ chức các khóa tu học ngắn hạn, lễ sám hằng tháng, ngõ hầu phương tiện chuyển hóa người dân trong làng đi vào chánh đạo, đúng như câu ca dao Việt Nam từng có câu:

“Làng tôi nhỏ bé xinh xinh,
Chung quanh có lũy tre xanh rườm rà,
Trong làng san sát nóc nhà,
Đình làng lợp ngói có vài cây cau,
Chùa làng rêu phủ mái nâu
Dân làng thờ cúng để cầu bình an”.

Mong rằng, An Dưỡng, ngôi chùa làng tôi luôn ấp ủ lòng từ bi, yêu thương, là nơi mở khai ánh sáng trí huệ, giúp cho đời sống của người dân làng Thái Thông mỗi ngày mỗi thăng hoa, mỗi ngày mỗi xa dần chỗ tối tăm đau khổ mà bước lên cảnh giới an lạc giải thoát.


Tâm Nguyên
(sau khi xuất gia Bổn sư đặt lại pháp danh là Nguyên Tạng)     
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/07/2012(Xem: 9483)
Thầy tôi khuất bóng nay đã 46 năm. Tôi cũng đã trãi qua mấy chục năm trường, đem tài sức hữu hạn của mình chung lo hành đạo và hóa đạo, cho đến bây giờ tuổi gần bảy mươi, mà ân hưởng của Thầy tôi ngày nào vẫn thấy còn đầm ấm bên lòng. Tình Thầy trò ngoài cái nghĩa là tình thiện tri thức được xông ướp trong mùi hương đạo, còn có nghĩa của một thứ tình gắn bó vô túc duyên không sao nói hết được.
09/07/2012(Xem: 7863)
Vùng đất trù phú Nam Bộ của Việt nam ngày nay từ khu vực Đồng Nai đến Hà Tiên xưa thuộc Vương Quốc Phù Nam. Phù Nam là tên phiên âm tiếng Hán của từ Phnom có nghĩa là núi. Theo sách Lĩnh Nam Trích Quái thì người Tàu thời xưa gọi tên nước này là ‘Diệu Nghiêm’. Vương quốc Phù Nam là vương quốc đầu tiên hình thành tại Đông Nam châu Á, tồn tại từ đầu thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 6 sau Công nguyên. Chúng ta có thể khẳng định rằng xã hội văn minh đã hiện hữu tại vùng đất này rất lâu trước khi vương quốc được thành lập.
29/01/2012(Xem: 19170)
Việt Nam, là một quốc gia nằm trong vùng Đông Nam Châu Á, Bắc giáp với Trung Hoa, Đông và Nam giáp với Biển Nam Hải, phía Tây giáp với Lào và Campuchia; diện tích: 329.556 km2, dân số 70 triệu người; mật độ dân cư: 224 người/km2; dân số dưới 15 tuổi: 39, 2%; tuổi thọ trung bình: 62,7 tuổi; tử suất trẻ em: 59%; học sinh cấp Trung học : 46,9%; tôn giáo chính: Phật giáo ( những tôn giáo nhỏ khác là Khổng, Lão, Cao Đài, Hòa Hảo, Ky Tô, Tin Lành…); thể chế chính trị: Cộng Sản; Lao động (nông & ngư nghiệp): 73% dân số; truyền thông đại chúng: 7 triệu máy radio, 3 triệu máy truyền hình, Nhật báo Nhân Dân phát hành 200.000 tờ mỗi ngày; thu nhập bình quân đầu người 113 đô la.
25/01/2012(Xem: 11540)
Ngày hôm nay trên mạng xã hội có một số người chia sẻ bộ sưu tập hình ảnh bản đồ Việt Nam từ những năm thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 19. Chia sẻ cùng các bạn, tôi sẽ bổ sung thêm các thông tin chi tiết sau, hoặc nếu bạn nào có thông tin gì về từng thời kỳ vui lòng comment để bài viết được hoàn thiện.
08/09/2011(Xem: 4214)
Hòa thượng Thích Giác Lượng, nguyên là Trị Sự trưởng Trị sự Đoàn GHTGKSVN, Giáo Đoàn 3 tại Trung Phần từ năm 1971 cho đến khi vượt biên năm 1980. Viện trưởng Viện Hành Đạo GHPGTGKS Thế giới, 1993, Phó Chủ tịch Hội Đồng Điều Hành Văn phòng 2 Viện Hóa Đạo, Đặc trách Giải Trừ Pháp Nạn, nhiệm kỳ 1997-2001, chủ nhiệm kiêm chủ bút Đặc San và Giai Phẩm Pháp Duyên (1983- 93), chủ bút tạp chí Nguồn Sống (1987- 91), chủ trương nhà xuất bản Nguồn Sống (từ năm 1988), thành viên Ban Chỉ Đạo kiêm chủ tịch Điều Hành Hội Đồng Hợp tác Tôn Giáo Bắc Cali, nhiệm kỳ 1994- 95 và 2000- 01, Chủ tịch Ủy Ban Quốc tế vận Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo cho Việt Nam, chủ tịch Phong Trào Phật giáo Yểm trợ PG Hòa Hảo Quốc nội (nay đổi tên là Phong trào Yểm trợ PGHH Quốc nội). HT Giác Lượng là một trong những nhân vật không ngừng đấu tranh cho tự do tôn giáo và nhân quyền tại Việt Nam. HT đến Úc Châu lần này để tham dự buổi Đại Hội Giáo Hội PG Việt Nam trên Thế giới, được tổ chức tại Melbourne,và Đại Hội Liên Hữu Phật
10/08/2011(Xem: 56277)
Lịch Sử Việt Nam (trọn bộ) An Nam Chí Lược - Lê Tắc Đại Việt Sử Ký Toàn Thư - Lê Văn Hưu, Phan Chu Tiên, Ngô Sĩ Liên Đại Việt Thông Sử - Lê Quý Đôn Đại Việt Sử Lược_Khuyết Danh - Nguyễn Khắc Thuần Hoàng Lê Nhất Thống Chí - Ngô Gia Văn Phái Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục - Quốc Sử Quán Triều Nguyễn Lam Sơn Thực Lục - Nguyễn Trãi biên soạn - Lê Thái Tổ đề tựa Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu - Cao Xuân Dục Thử Viết Lại Cổ Sử Việt Nam - Trương Thái Du Thiền Uyển Tập Anh - Lê Mạnh Thát Việt Điện U Linh Tập - Lý Tế Xuyên Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim Việt Sử Tiêu Án - Ngô Thời Sỹ Việt Nam Nam Phật Giáo Sử Ca - Thích Nhật Tân Việt Nam Thi Sử Hùng Ca (thơ) Thích Nhật Tân
10/08/2011(Xem: 9635)
Bài kệ "Hữu cú vô cú" đã có nhiều người dịch, ngoài các bản dịch còn có bản giảng giải của Hòa Thượng Thích Thanh Từ. Tuy nhiên theo thiển ý của tôi hầu hết các bản dịch cũng như lời giảng vẫn còn nhiều chỗ chưa rõ ràng, nhất quán và thỏa đáng. Vì vậy tôi xin dịch và giảng lại bài này trong cách hiểu biết của tôi.
06/08/2011(Xem: 6494)
Vua Thái Tổ, thụy hiệu Thống Thiên khải vận thánh đức thần công duệ văn anh vũ khoan minh dũng trí hoằng nghĩa chí nhân đại hiếu Cao Hoàng Đế. Vua họ Lê, tên húy là Lợi, người làng Lam Giang, huyện Lương Giang, phủ Thanh Hoa. Cụ Tằng Tổ của vua tên húy là Hối, sau truy tôn là “Cao thượng tổ Minh Hoàng Đế”. Tính cụ chất phát ngay thẳng, giữ mình như người ngu, nhưng hiểu biết rất sâu xa, có thể biết trước những sự chưa thành hình. [tờ 7b] Nguyên trước ở thôn Như Áng, một hôm, cụ đi chơi, thấy đàn chim liệng vòng quanh trên một khoảng đất nơi dưới núi Lam sơn, trông hình như một đám người tụ hội. Cụ tự nghĩ: “Chỗ này tất là nơi đất lành”,
02/08/2011(Xem: 7311)
Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục_Quốc Sử Quán Triều Nguyễn
22/07/2011(Xem: 4329)
Từ một người đi tìm vàng ở California, ông đã trở thành ký giả người Việt đầu tiên trên đất Mỹ. Ông là Trần Trọng Khiêm, người làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, Phú Thọ. Trần Trọng Khiêm sinh năm Tân Tỵ (1821), tức năm Minh Mạng thứ 2, là con của một gia đình thế gia vọng tộc ở phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ nhưng trong người lúc nào cũng sẵn máu phiêu lưu. Năm ông 21 tuổi, vợ ông bị một viên chánh tổng âm mưu làm nhục rồi giết hại. Sau khi giết tên chánh tổng báo thù cho vợ, ông xuống Phố Hiến (Hưng Yên), xin làm việc trong một tàu buôn ngoại quốc và bắt đầu bôn ba khắp năm châu bốn bể.