Tại Sao Phật Giáo Suy Tàn Ở Ấn Độ?

18/06/201818:58(Xem: 12996)
Tại Sao Phật Giáo Suy Tàn Ở Ấn Độ?

bodedaotrang-11-s
Vì sao Phật giáo suy tàn ở Ấn độ?

 

 

Theo học giả Sthiti Das, có 12 nguyên nhân chánh như sau:
 

1) Giáo đoàn đồi trụy

 

Theo thời gian, phần nhiều các giáo đoàn Phật giáo trở nên đồi trụy. Tăng lữ và tín đồ đã biến chất thành xa hoa và hưởng thụ. Họ tích trữ của cải và vàng bạc, trở nên tham lam và đua đòi vật chất. Rồi họ sống đời vô kỷ luật. Gương xấu và nếp sống bê tha của họ khiến cho dân chúng chán ghét. Người ta không thích đạo Phật nữa.

 

2) Ấn giáo Canh tân

 

Phật giáo đã giáng một đòn mạnh vào Ấn giáo. Trước viễn ảnh tuyệt chủng, Ấn giáo bắt đầu cải cách. Họ bỏ bớt hệ thống lễ nghi rườm rà để làm cho Ấn giáo đơn giản và hấp dẫn hơn. Họ nhìn nhận Đức Phật là một vị thần của Ấn giáo, kể cả chấp nhận thuyết "Bất Hại" của Phật giáo. Điều nầy lấy đi hương thơm của đóa hoa Phật giáo. Và làm cho sự suy tàn của Phật giáo là điều không thể tránh khỏi.

 

3) Chia rẽ trong hàng ngũ tín đồ.

 

Thỉnh thoảng có sự chia rẽ trong hàng ngũ tín đồ Phật giáo. Nhiều môn phái xuất hiện như Tiểu thừa, Đại thừa, Mật tông, Đại thừa Cải cách vv..làm cho Phật giáo mất đi tính thuần túy. Ảnh hưởng của Mât phái (Tantrism) làm cho người ta chán ghét. Phật giáo không còn đơn thuần và trở nên phức tạp, đủ làm cho người ta xa lánh. Và sự suy tàn của nó chỉ là vấn đề thời gian.

 

4) Sự áp đặt Phạn ngữ

 

Tiếng Pali và Prakrit là ngôn ngữ của đa số dân Ấn Độ, là phương tiện để phổ biến giáo pháp của Phật. Thế nhưng Phạn ngữ đã thay thế chúng trong kỳ Kết tập lần IV dười thời Hoàng Đế Kaniska. Phạn ngữ là thứ tiếng khò hiểu trước đó đã gây ra sự suy tàn của Ấn giáo. Bây giờ, khi Phật giáo dùng thứ tiếng đó, ít người có thể hiểu đươc. Nên họ đã xa rời kinh sách Phật giáo.

 

5) Sự thống trị của Bà-la-môn giáo

 

Theo thời gian, tín ngưỡng Bà-la-môn giáo lại trổi dậy. Tướng Pushyamitra Sunga của vị vua cuối cùng triều đại Maurya, đã ám sát nhà vua và lập nên triều đại Sunga.Ông liền làm lễ tế ngựa, khuyến khích tín ngưỡng Bà-la-môn. Nguyên tắc Bất Hại của Phật giáo bị bãi bỏ. Nhiều chùa chiền Phật giáo bị tàn phá. Tăng ni bị giết hại. Phật giáo bị đình chỉ. Rồi triều đại Guptas của Bà-la-môn giáo lại đến mở ra thêm con đường suy tàn của Phật giáo.

 

6) Vai trò của các Bà-la-môn sư

 

Vua Harsavardhan đuổi hết các sư Bà-la-môn trong kỳ Đại hội Tôn giáo tại Kanauj. Kumarila Bhatta cầm đầu các vị sư nầy, chạy qua Deccan. Dưới sự  lãnh đạo của Bhatta, Bà=la-môn giáo đã phục hưng. Luận sư Adi Sankaracharya cũng đã hồi sinh và tăng cường Ấn giáo. Ông đã đánh bại nhiều đối thủ Phật giáo trong khi đi giảng thuyết tại nhiều nơi trên toàn xứ Ấn-độ.

 

Như vậy, sự thắng thế của Ấn giáo trên Phật giáo đã được thành lập. Chiều hướng nầy tiếp tục với các nỗ lực của các sư như Ramanuja, Nimbarka, Ramananda, vv,,,Ấn giáo đã tái lập được sự vinh quang, và vị thế trong lòng người dân Ấn..Với sự thất bại của Phật giáo.

 

7) Rạn nứt trong Giáo hội Phật giáo

 

Sự chia rẽ trong Giáo Hội khiến cho tăng tài không thể xuất hiện. Những gương sáng như ngài A-nan, Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên trở nên rất hiếm hoi. Tinh thần và nghị lực truyền giáo đã biến mất. Như vậy, sự suy tàn của Phật giáo đến với sự thiếu vắng của những nhà truyền giáo và cải cách nhiệt thành.

 

8) Sự thờ phượng đức Phật

 

Đại thừa Phật giáo khởi đầu sự thờ phượng tượng ảnh của đức Phật. Cách thờ phượng nầy đi ngược với nguyên tắc của Phật giáo là chống lại các nghi lễ phức tạp của Ấn giáo. Sự mâu thuẫn nầy khiến cho người ta tin rằng Phật giáo đã nghiêng hẳn về phía Ấn giáo. Do đó tính quan trọng của Phật giáo mất dần

 

9) Mất đi sự ủng hộ của vua chúa

 

Theo thời gian, Phật giáo đã mất dần sự ủng hộ của các quân vương. Sau Asoka, Kaniska và Harsavardhan, không có vị vua nào đáng kể đã đến bảo trợ Phật giáo. Sự ủng hộ của nhà vua là điều nhiệm mầu để cho bất cứ tôn giáo nào có thể phát triển. Sự thiếu vắng điều kiện nầy đã lót đường cho sự suy tàn cuối cùng của Phật giáo.

 

10) Hung-nô xâm chiếm

 

Sự xâm chiếm Ấn-độ của quân Hung-nô đã làm rung chuyển Phật giáo. Các tướng Hung-nô như Toamana và Mihirakula hoàn toàn chống lại nguyên tắc Bất Hại. Họ tàn sát nhiều Phật giáo đồ ở vùng Tây Bắc Ấn-độ. Giáo dân chỉ có con đường là bỏ đạo hay chạy trốn. Không ai dám rao truyền lời dạy của Phật trong thời gian nầy. Do đó Phật giáo trở nên suy yếu và cạn kiệt.

 

11) Sự xuất hiện của các vị vua hiếu chiến

 

Sự xuất hiện của các vị vua tàn bạo nầy là lý do quan trọng cho sự suy thoái của Phật giáo.Các triều đại như Bundela, Chahamana, Chauhan, Rathore, vv...đều ưa thích chiến tranh.   Họ không thể dung thứ Phật giáo đồ trung thành với nguyên lý Bất Hại. Phật tử sợ bị ngược đãi nên phải trốn khỏi Ấn-độ. Phật giáo suy yếu và đối diện sự điêu tàn.

 

12) Sự xâm chiếm của quân Hồi giáo

 

Sự xâm chiếm của các đạo quân Hồi giáo gần như đã tận diệt Phật giáo. Từ năm 712, họ liên tục và nhiều lần tấn công Ấn-dộ. Tăng ni Phật giáo buộc phải chạy trốn và lánh nạn ở Nepal và Tây Tạng. Cuối cùng Phật giáo gần như biến mất khỏi Ấn-độ, nơi nó sinh ra,

 

 

Thích Phước Thiệt dịch theo tài liệu “Top 12 causes for the decline of Buddhism” của Stithi Das. - 18/06/2018

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/06/2017(Xem: 12000)
Câu chuyện ly kỳ về việc thiền sư Việt phá giải thuật phong thủy của Cao Biền được ghi chép lại trong “Thiền Uyển tập anh” đã mang lại cho người thời nay thật nhiều câu hỏi. Phong thủy có thật hay không? Định mệnh có thật hay không? Đức tin là thật hay là hư ảo? “Thiền uyển tập anh” hay “Đại Nam thiền uyển truyền đăng tập lục” là tài liệu lịch sử cổ nhất của Phật giáo Việt Nam, ghi lại tương đối hệ thống các tông phái Thiền học và sự tích các vị Thiền sư nổi tiếng từ cuối thế kỷ 6 đến thế kỷ 13, tức là vào cuối thời Bắc thuộc cho đến thời Đinh, Lê, Lý và một số ít vị lớp sau còn sống đến đầu triều Trần.
22/05/2017(Xem: 66528)
Trong bước đầu học Phật, chúng tôi thường gặp nhiều trở ngại lớn về vấn đề danh từ. Vì trong kinh sách tiếng Việt thường dùng lẫn lộn các chữ Việt, chữ Hán Việt, chữ Pali, chữ Sanscrit, khi thì phiên âm, khi thì dịch nghĩa. Các nhân danh và địa danh không được đồng nhứt. Về thời gian, nơi chốn và nhiều câu chuyện trong sự tích đức Phật cũng có nhiều thuyết khác nhau làm cho người học Phật khó ghi nhận được diễn tiến cuộc đời đức Phật. Do đó chúng tôi có phát nguyện sẽ cố gắng đóng góp phần nào để giúp người học Phật có được một tài liệu đầy đủ, chính xác, đáng tin cậy, dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ và dễ tra cứu khi cần.
18/04/2017(Xem: 13411)
Tập sách này gồm nhiều bản văn được chuyển dịch và trình bày kèm theo nguyên tác Anh ngữ, là các tài liệu trước đây vốn thuộc loại hồ sơ mật hoặc tối mật, nghĩa là chỉ dành riêng cho những người có trách nhiệm mà hoàn toàn không được phổ biến đến công chúng. Phần lớn các tài liệu đó là của chính phủ Mỹ, như các Công điện, Bản Ghi nhớ, Điện tín, Phúc trình... Tài liệu có nguồn từ Bộ Ngoại Giao Mỹ được lấy từ FRUS; ngoài ra còn có các tài liệu từ Tòa Bạch Ốc (Hội đồng An Ninh Quốc Gia NSA), Bộ Quốc Phòng (Pentagon Papers), CIA (tại Sài Gòn và tại Langley), và từ Thượng Viện (Select Committee to Study Governmental Operations).
09/11/2016(Xem: 12301)
Có khoảng 250 Đại Biểu chính thức của Hội Đồng Điều Hành Tăng Gìa Thế Giới gồm 36 Quốc Gia về Đài Bắc, Đài Loan tham dự Hội Nghị từ ngày 6 đến ngày 10 tháng 11 năm 2016 vừa qua. Hòa Thượng Thích Như Điển là thành viên của Ủy Ban Nghiên cứu và phát triển Phật Giáo trên thế giới cùng với đông đảo chư Tăng Ni và Phật Tử Việt Nam cũng đã có mặt trong những ngày trọng đại nầy.
06/07/2016(Xem: 12587)
Hôm nay là ngày 10 tháng 6 năm 2015, tại thư phòng chùa Viên Giác Hannover, Đức Quốc, tôi bắt đầu viết tác phẩm thứ 65 của mình với tựa đề là “Nước Úc trong tâm tôi” để sang năm 2016 sẽ xuất bản và ấn tống. Tác phẩm nầy được viết trong mùa An Cư Kiết Hạ lần thứ 31 của năm Ất Mùi, nghĩa là từ năm 1984 đến nay (2015) cứ mỗi năm ba tháng như vậy, Thầy trò chúng tôi có trọn vẹn 3 tháng an cư tại chùa Viên Giác thật là an lạc. Chương trình mỗi ngày được bắt đầu từ 5 giờ 45 sáng. Đại Chúng vân tập nơi Tổ Đường để xá Tổ, sau đó lên Chánh Điện, hô canh và tọa thiền 15 phút. Sau khi xả thiền, Đại Chúng bắt đầu trì tụng Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm, phần giữa của thời khóa có kinh hành niệm Phật ba vòng, tiếp đó lạy danh hiệu của chư Phật, Bồ Tát và Thánh Chúng độ 35 lạy. Sau thời công phu khuya ai về phòng nấy để nghỉ ngơi hay hành trì tiếp, hoặc tập thể dục. Đúng 8 giờ sáng là giờ điểm tâm của Đại Chúng, ai nấy đều tỉnh thức trong lúc dùng sáng, không nói chuyện, mà câu chuyện hằng ngày chỉ được
09/06/2016(Xem: 13062)
Tôi tới một miền quê, kề bên một trận địa vào một buổi chiều hoe nắng. Ở đây, cánh đồng loáng nước nằm dài vắng bóng người nông dân cần mẫn. Nhìn vào thôn xóm không một bóng người, khóm tre xơ xác, mái im lìm ! Qua một đêm, ngủ đỗ, sáng hôm sau trở dậy lên đường. Trong ánh nắng sớm mai, đố ai biết có gì đổi khác. Nhìn vào thôn xóm vẫn không một bóng người, vẫn khóm tre xơ xác, mái tranh im lìm. Nhưng giải đồng loáng nước chiều qua đã xanh rì ngọn mạ. Tôi nghĩ tới bóng trăng đêm trước, đến những đoàn người lũ lụt trở về đây, đến những bàn tay mềm mại cấy từng hàng mạ trên giải đồng rộng mênh mông. Trong lúc bom đạn cứ tơi bời trên các đô thành làng mạc, trong lúc chiến tranh cứ tiếp tục gieo rắc tang tóc và đổ nát thì ở đây, nguời dân ViệtNam thản nhiên gieo nguồn sống. Nhành lúa mới như một tuổi xuân vùng trổi dậy, tượng trưng cho sức sống mảnh liệt cho cả một dân tộc. (tác giả Thích Nhất Hạnh)
19/05/2016(Xem: 50548)
Bắt đầu từ ngày 06 tháng 4 năm 2016, cá biển tự nhiên và cá nuôi lồng bè của ngư dân ven biển chết hàng loạt, bắt nguồn từ khu kinh tế Vũng Áng (thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh), lan xuống các tỉnh lân cận (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam-Đà Nẵng…) suốt dọc trên 200 cây số bờ biển. Ngay cả rạn san hô, “nhà ở” của các sinh vật dưới biển, cách bờ biển từ 1-6 hải lý, chạy dài từ đầu tỉnh đến cuối tỉnh Quảng Bình, cũng đã bị phá hủy trong các đợt cá chết vừa qua; san hô chết, nhiều sinh vật biển chết theo (theo báo cáo ngày 06.5.2016 của chính quyền địa phương thôn Nhân Nam, xã Nhân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình).
09/04/2016(Xem: 18641)
Đôi lời về Xá Lợi Phật_Lạt Ma Zopa Rinpoche_Hồng Như dịch, Bảo Tháp thờ Xá Phật còn sót lại ở Thành Tỳ Xá Ly, Ấn Độ (hình phái đoàn hành hương Phật tích Ấn Độ của Tu Viện Quảng Đức tháng 11-2006)
19/01/2016(Xem: 8581)
Năm nay, 2016, đánh dấu 50 năm Phật Giáo Việt Nam có mặt tại Hoa Kỳ, tính từ năm 1966, khi mà Cố Hòa Thượng Thích Thiên Ân đến Mỹ dạy tại Đại Học UCLA và ở lại luôn để truyền bá Phật Giáo Việt Nam tại đây. Vì vậy, Cố Hòa Thượng Thích Thiên Ân là vị sơ tổ của Phật Giáo Việt Nam tại Mỹ. Nhưng trước hết xin nhìn thoáng qua một chút về bối cảnh Phật Giáo Mỹ.
06/01/2016(Xem: 26308)
Có thể nói Phật giáo Việt Nam trong tình hình phát triển hiện nay tuyệt đại bộ phận do sự tác động mạnh mẽ của bảy dòng thiền chính, trong đó bốn dòng trực tiếp kế thừa các dòng thiền từ Trung Quốc và bốn dòng được phát sinh tại đất nước ta. Bốn dòng từ Trung Quốc, nếu dựa vào thứ tự truyền nhập vào Việt Nam là các dòng Bút Tháp của Viên Văn Chuyết Công (1590 – 1644), dòng Thập Tháp của Siêu Bạch Thọ Tông (1648–1728), dòng Quốc Ân của Nguyên Thiều Hoán Bích (1648–1728), cả ba dòng này đều thuộc phái Lâm Tế và dòng Hòe Nhai của Thủy Nguyệt thuộc phái Tào Động. Ba dòng còn lại thì đều xuất phát tại Việt Nam hoặc do kết hợp một dòng từ Trung Quốc như Bút Tháp với một dòng tồn tại lâu đời tại Việt Nam như Trúc Lâm, mà điển hình là dòng Long Động của thiền sư Chân Nguyên Tuệ Đăng (1647–1726) hoặc do các vị thiền sư người Việt Nam hay Trung Quốc hành đạo tại Việt Nam xuất kệ thành lập dòng mới, cụ thể là các dòng thiền Chúc Thánh của thiền sư Minh Hải Pháp Bảo (1670–1746) và Thiên Thai