Danh từ Ấn, Hồi

06/01/201206:49(Xem: 8673)
Danh từ Ấn, Hồi

LỊCH SỬ VĂN MINH ẤN ĐỘ 

Tác giả: Will Durant - Nguyễn Hiến Lê dịch

DANH TỪ ẤN, HỒI

do Pháp phiên âm
(Chúng tôi bỏ bớt một số danh từ ít gặp trong sách)

A

Abhidamma
: Luận, một trong tam tạng của Phật giáo.

Açoka
[Ashoka]: (A Dục) một trong những ông vua đầu tiên theo đạo Phật và làm cho đạo đó phát triển mạnh, ở thế kỉ thứ III trước Công nguyên.

Adrishta
: Vô kiến

Advaitam
: bất nhị nguyên

Ahimsa
: giới luật bất tổn sinh (không được làm thương tổn tới sinh mạng của một loài nào), ta thường dịch là bất bạo động, hoặc bất hại.

Ajur veda
: phép trường sinh chỉ trong Arthava Veda.

Akbar
: (A Cách Bá) một ông vua gốc Mông Cổ cai trị Ấn, rất có tài, ở thế kỉ XVI.

Amida
: Phật A Di Đà.

Ananda
: khánh hỉ tức cảnh vĩnh phúc khi đã đại giác, thấy mình với Đại Ngã chỉ là một. Cũng là tên một môn đệ thân tín của Phật Thích Ca, theo truyền thuyết có công đầu chép lại lời dạy của Phật; tiếng Hán là A Nan.

Aranyaka
: một phần trong các kinh Veda.

Arhat
: La Hán, trong đạo Phật. Trong đạo Jaïn, trỏ một linh hồn đã được giải thoát vĩnh viễn.

Asana
: (tư thế) giai đoạn thứ ba để tu yoga: bỏ hết mọi cử động, cảm giác.

Ashrama
: giai đoạn tu hành theo Bà La Môn để tới bực thánh.

Astika
: hữu (trái với vô).

Atharva Veda
: Coi Veda.

Atman
: linh hồn của mọi linh hồn, tức cái Đại Ngã. Atman với Brahman chỉ là một.

Avalokiteshvara
: một vị thần từ bi trong Ấn Độ giáo[1].

Avidya
: vô minh (không sáng suốt, mê muội).



B

Bengali: một ngôn ngữ văn chương ở miền Bengale.

Bhakti-yoga
: con đường tu hành bằng từ ái.

Bhagavad Gita
: trường thi triết lí danh tiếng nhất của Ấn, người Trung Hoa dịch là Bát Già Phạn khúc.

Bhikkhu
: tì khưu.

Bodhi: cây bồ đề.

Bodhisattwa
: Phật Bồ Tát, tự nguyện đầu thai để cứu nhân loại.

Brahma
: Phạn Thiên, một trong ba vị thần tối cao.

Brahmana
: Phạn chí, sách lễ của đạo Bà La Môn.

Brahmane
[Brahman]: Bà La Môn, trỏ một tập cấp tu sĩ và đạo của các tu sĩ đó, đạo này có trước Phật giáo, rất phổ biến ở Ấn.

Brahman
: Thực thể của vũ trụ, linh hồn của mọi vật (nhiều sách thường dùng lẫn lộn Brahma với Brahman).
Bhrama-chary[2]
: giai đoạn tu hành thứ nhất của Bà La Môn khi chưa có vợ.

Bhramacharya
: nguyện vọng của người tu hành, bỏ hết nhục dục, giữ cho mình thanh khiết.

Bhrama-somaj
: Hội Brahma, một phong trào cải lương ở thế kỉ XIX.

Buddhi
: trí năng.


CH

Chaïtya
[Chaitya]: phòng hội họp trong các chùa, đền.

Charka
: guồng quay sợi.

Charvaka
: một phái duy vật ở Ấn.




D

Darshana
: tên gọi chung các triết hệ chính thống ở Ấn.

Devadasi
: ca vũ nữ mà cũng là con gái điếm trong các đền Ấn.

Devadatta
: (Đề Bà Đạt Đa) em bà con của Phật.

Dharana
: giai đoạn thứ sáu để tu yoga: thiền.

Dharma
: bổn phận thuộc mỗi tập cấp.

Dhyana
: giai đoạn thứ bảy để tu yoga: định.

Digambara
: một phái trong đạo Jaïn, chủ trương khoả thân.

Dravidien
[Dravidian]: thổ dân ở Nam Ấn.




F

Fakir
: từ ngữ này gốc Ả Rập, chính nghĩa là nghèo, mới đầu trỏ một hạng tu sĩ Hồi nguyện sống nghèo, sau trỏ cả những tu sĩ yoga[3].



G

Gandhara
: tên một miền mà cũng là một phái điêu khắc chịu ảnh hưởng của Hi Lạp.

Gautama
: Cồ Đàm, thị tộc của Phật Thích Ca.

Gopuram
: cửa chính trong các đền Ấn.

Grihastha
: giai đoạn tu hành thứ nhì của Bà La Môn khi có vợ.

Guna
: khả năng biến hoá.

Gupta
: tên một miền ở Ấn rất thịnh, rất văn minh trong các thế kỉ thứ IV, V; cũng trỏ nền văn minh đó.

Guru
: thầy, phu tử; mỗi trẻ em Ấn theo học một guru từ nhỏ tới khoảng 20 tuổi, phải phục vụ guru cũng như hồi xưa chúng ta phục vụ các thầy đồ.



H

Hinayana
: Tiểu thặng, cũng gọi là Tiểu thừa (tiếng Pháp dịch là Petit véhicule).

Hindi
: một thổ ngữ quan trọng ở Ấn.

Hindoustani
[Hindustani]: một thổ ngữ từ thổ ngữ hindichuyển qua.


I

Inana-yoga
[Jnana-yoga]: con đường tu hành bằng trầm tư.

Ishvara
: đấng Sáng tạo, cũng tức là Brahman.



J

Jaïn
[Jain]: (Kì Na giáo) một tôn giáo đồng thời với đạo Phật.

Jaimini
: người thành lập triết thuyết Purvamimansa.

Jina
: đấng Cứu thế, theo đạo Jaïn.


K

Kali
: nữ thần, thường được coi là thần Chết, hình rất rùng rợn, vợ của thần Shiva.

Kalpa
: kiếp, một chu kì bằng 4.320 triệu năm.

Kanada
: thuỷ tổ phái Vaisheshika.

Kapila
: người lập ra triết thuyết Sankhya.

Kapilavastu
: Ca Tì La Vệ, kinh đô vương quốc của thân phụ Phật Thích Ca.

Karma
: nghiệp báo[4].

Karma-yoga
: con đường tu bằng hành động.

Khaddar
: một thứ hàng “len” xấu, hoặc một thứ vải thô người Ấn dệt lấy.

Kharosthi: cổ tự Ấn ở thế kỉ thứ V trước Công nguyên.

Krishna
: một vị thần, hoá thân của thần Vichnou.

Kshatriya
: tập cấp chiến sĩ.


L

Linga
: hình tượng trưng dương vật, để thờ.

M

Mahabharata
: một anh hùng trường ca thời cổ, rất danh tiếng.

Mahatma
: thánh.

Mahavira
: đại anh hùng, tên tín đồ Jaïn tặng người sáng lập ra đạo Jaïn.

Mahayana
: Đại thặng, cũng gọi là Đại thừa (tiếng Pháp dịch là Grand véhicule).

Mahayuga
: một thời vận bằng 4.320.000 năm, một phần ngàn của một kalpa.

Manas
: mạt-na, tức tinh thần.

Mandapam
: cổng trong các đền Ấn.

Manou
[Manu]: bộ luật cổ về các tập cấp; theo truyền thuyết, Manou là người soạn bộ luật đó.

Mantra
: thánh ca, có chỗ trỏ thần chú, bùa phép.

Mastaba
: bệ lớn trên đó dựng đền, như bệ Voi ở Đế Thiên Đế Thích.

Maya
: Ma Da, tên thân mẫu Phật Thích Ca.

Moksha
: sự thoát khỏi vòng luân hồi.

Mullah
: tu sĩ Hồi giáo.

N

Nalanda
: tu viện Na Lan Đà.

Naga
: thổ dân Ấn trước khi người Aryen tới; cũng trỏ rồng thần hoặc rắn thần mà thổ dân đó thờ.

Nastika
: vô (trái với hữu).

Niyama
: (luật) giai đoạn thứ nhì để tu yoga: giai đoạn dự bị.

Nirvana
: Niết bàn.

Nyaya
: luận lí học, tên một triết thuyết trọng sự biện luận (chính nghĩa là nghị luận).



O

Om
: một âm thiêng liêng của Ấn, người tu yogakhi toạ thiền, tụng hoài âm đó.


P

Pali
: cổ ngữ Ấn ở phương Nam, có sau cổ ngữ sanscrit; các sách Việt thường dịch sanscrit và pali là tiếng phạn, có lẽ nên phân biệt sanscrit là bắc phạn, và pali là nam phạn.

Panchagavia
: một phép “tẩy uế” rất đáng kinh, phải uống nước tiểu của bò cái, vân vân.

Paria
[Pariah]: tiện dân.

Pitaka
: tạng.

Prakiti[Prakriti]: bản thể (cái sinh ra những cái khác).

Prakrit
: cổ ngữ Ấn, có sau cổ ngữ sanscrit, trước cổ ngữ pali.

Pranayama
: (điều khí) giai đoạn thứ tư để tu yoga: kiểm soát hơi thở.

Pratyahara
: (li thế) giai đoạn thứ năm để tu yoga: diệt hết ý nghĩ.

Purana
: sách giáo lí cho các tập cấp không phải là Bà La Môn; cũng có nghĩa là truyện cổ Ấn Độ.

Purdah
: tục đàn bà cấm cung và che mặt.

Purusha
: thần ngã hoặc tinh thần.

Pura mimansa
: một triết thuyết phản đối chủ trương vô tín ngưỡng.

R

Radjpute
[Rajput]: dân miền Rajputana ở Tây Ấn[5].

Raga
: nhạc chỉ.

Rahula
: tên con trai của Phật Thích Ca.

Raja: người thủ lãnh một bộ lạc thời cổ.

Rajah
: tiểu vương Ấn.

Rama
: một hoá thân của thần Vichnou.

Ramayana
: một anh hùng trường ca rất nổi danh thời cổ Ấn Độ.

Rig Veda
: coi Veda.

Rita
: đạo Trời.



S

Sama Veda
: coi Veda.

Samadhi
: (tuệ) giai đoạn thứ tám và cuối cùng để tu yoga: xuất thần.

Samana
: sa môn.

Sankhya
: số luận, môn phái triết có trước khi Thích Ca ra đời (chính nghĩa là liệt kê).

Sannyasi
: giai đoạn tu cuối cùng của Bà La Môn: từ bỏ xã hội và gia đình.

Sanscrit
: cổ ngữ Ấn Độ ở phương Bắc.

Sarnath
: Lộc Uyển, nơi Phật Thích Ca thuyết pháp lần đầu.

Shah
: tiếng Ba Tư trỏ vua.

Shakti
: năng lực sinh hoá, sáng tạo; cũng trỏ giáo phái thờ năng lực đó.

Shakya Muni
: Thích Ca Mâu Ni (có sách viết là Çakya Mouni).

Shaman
: phù thuỷ.

Sangha: tăng già, đoàn thể tu sĩ trong Phật giáo.

Shankara
: một triết gia, có công lớn với triết thuyết Vedanta, thuộc phái Bà La Môn; người ta coi ông là Kant của Ấn Độ.

Shiva
: một trong ba vị thần tối cao.

Shivaisme
[Shivaism]: giáo phái tôn thờ Shiva.

Shuddhodhana
: Tịnh Phạn, thân phụ của Phật Thích Ca.

Shudra
: tập cấp công nhân, lao động.

Siddharta
[Siddhartha] Tất Đạt Ta, tên tục của Thích Ca.

Sikh
: tên một giáo phái, cũng trỏ những người theo giáo phái đó.

Stupa: cái tháp.

Sutra
: lời bình giải các kinh, có hình thức cách ngôn, người ta thường dịch là kinh.

Sutta
: kinh, một trong tam tạng của Phật giáo.

Swadeshi
: phong trào tẩy chay hàng Anh.

Swaraj
: phong trào tự trị.


103lichsuvanminhando-10a

Tượng Trimurti

T


Tamul
[Tamil]: thổ ngữ văn chương của miền Nam, có chỗ viết là Tamil[6] hay Tamoul.

Tantra
: cổ thư, chân ngôn.

Tathagata
: Như Lai, tôn danh của Phật Thích Ca, có nghĩa là vị nắm được chân lí.

Tattwa
: thực thể, tát đoả.

Topa
: cũng như stupa, mới đầu trỏ một nấm mồ, sau trỏ cái tháp chứa hài cốt các vị thánh hay hoà thượng.
Trimurti
: tượng thần Shiva có ba mặt[7].

Tripitaka
: tam tạng gồm Kinh, Luật, Luận của Phật giáo.



U

Upanishad
: phần thuyết pháp trong các kinh Veda.



V

Vaisheshika
: thắng luận, tên một triết thuyết.

Vaishnavisme
[Vaishnavism]: giáo phái tôn thờ thần Vichnou.

Vaisya
: tập cấp thương nhân.

Vanaprastha
: giai đoạn tu hành thứ ba của Bà La Môn: ở ẩn trong núi, nhưng vẫn sống với vợ.

Veda
: Vệ Đà hoặc Phệ Đà: các kinh có từ khoảng 1000 tới 500 trước Công nguyên. Nay còn 4 kinh: Rig Veda (Lê Câu Vệ Đà), Sama Veda, Yajur Vệ Đà (Dạ Nhu Vệ Đà), Arthava Veda. Cũng trỏ thời đại các kinh đó xuất hiện.

Vichnou[Vishnu]: một trong ba vị thần tối cao.

Vihara
: tu viện.

Vinaya
: Luật, một trong tam tạng của Phật giáo.

Vishesha
: đặc chất, đặc tính, thắng (phân biệt).



Y

Yajur Veda
: coi Veda.

Yama
: giai đoạn đầu tiên để tu yoga: diệt dục.

Yoga
: Du già, một lối tu khổ hạnh (chính nghĩa là cái ách).

Yogi
: người tu theo yoga.

Yoni
: hình tượng trưng âm hộ, để thờ.

Yuga
: một thời đại bằng một phần tư mahayuga.


[1] Cũng là Quán Thế Âm Bồ Tát trong Phật giáo. (Goldfish).

[2] Chắc là Bhramacharibị in sai mà thành Bhrama-chary, vì trong tiết V – chương V in là Bhramachari, còn bản tiếng Anh cũng phiên âm là: Bhramachari. (Goldfish).

[3] Trong Tiết VI – Chương V, có đoạn: “một triệu fakir(cũng như phù thuỷ)” - Bản tiếng Anh chỉ viết là: “a million fakirs”. (Goldfish).

[4] Có chỗ cụ Nguyễn Hiến Lê dịch là: nghiệp, quả báo. (Goldfish).

[5] Radjputecó chỗ chép là Rajputhoặc Rajpute; Rajputanacó chỗ chép là Radjputana. (Goldfish).

[6] Trong sách có chỗ giảng Tamil là xứ của người Tamil. (Goldfish).

[7] Trong tiết II – Chương V, tác giả viết: Người Ấn cho rằng đời sống cũng như vũ trụ, qua ba giai đoạn liên tiếp: sinh, trưởng rồi diệt. Vì vậy có ba thứ thần: thần Brahma, đức Sáng tạo; thần Vichnou, đức Bảo tồn; và thần Shiva, đức Huỷ diệt: đó là Trimurti, tức “ba hình thức” mà tất cả các người Ấn, trừ những tín đồ Jaïn [và Hồi giáo, dĩ nhiên] đều theo”. (Goldfish).

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/01/2016(Xem: 26383)
Có thể nói Phật giáo Việt Nam trong tình hình phát triển hiện nay tuyệt đại bộ phận do sự tác động mạnh mẽ của bảy dòng thiền chính, trong đó bốn dòng trực tiếp kế thừa các dòng thiền từ Trung Quốc và bốn dòng được phát sinh tại đất nước ta. Bốn dòng từ Trung Quốc, nếu dựa vào thứ tự truyền nhập vào Việt Nam là các dòng Bút Tháp của Viên Văn Chuyết Công (1590 – 1644), dòng Thập Tháp của Siêu Bạch Thọ Tông (1648–1728), dòng Quốc Ân của Nguyên Thiều Hoán Bích (1648–1728), cả ba dòng này đều thuộc phái Lâm Tế và dòng Hòe Nhai của Thủy Nguyệt thuộc phái Tào Động. Ba dòng còn lại thì đều xuất phát tại Việt Nam hoặc do kết hợp một dòng từ Trung Quốc như Bút Tháp với một dòng tồn tại lâu đời tại Việt Nam như Trúc Lâm, mà điển hình là dòng Long Động của thiền sư Chân Nguyên Tuệ Đăng (1647–1726) hoặc do các vị thiền sư người Việt Nam hay Trung Quốc hành đạo tại Việt Nam xuất kệ thành lập dòng mới, cụ thể là các dòng thiền Chúc Thánh của thiền sư Minh Hải Pháp Bảo (1670–1746) và Thiên Thai
06/07/2015(Xem: 15505)
(Bài này được trích dịch từ tài liệu có tên “Những Giới Hạn Trong Các Vùng Biển” (Limits In The Seas) mang số 143 với tựa đề “Trung Quốc: Tuyên Bố Chủ Quyền Biển Trong Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông)” (China: Maritime Claims In The South China Sea) được Văn Phòng của Vụ Đại Dương và Vùng Cực (Office of Ocean and Polar Affairs), Văn Phòng của Vụ Đại Dương và Môi Trường và Khoa Học Quốc Tế (Bureau of Ocean and International Environmental and Scientific Affairs) của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ (US Department of State) công bố ngày 5 tháng 12 năm 2014 – (Nguồn: http://www.state.gov/documents/organization/234936.pdf ). Mục đích của nghiên cứu này là để xem xét tuyên bố về biển và/hay các biên giới của Bộ Ngoại Giao và đánh giá sự phù hợp với luật quốc tế. Nghiên cứu này đại diện quan điểm của Chính Phủ Hoa Kỳ chỉ đối với những vấn đề đặc biệt được thảo luận trong đó và không nhất thiết phản ảnh sự chấp thuận những giới hạn được tuyên bố. Các phân tích gia chính cho nghiên cứu này là Kevin Baumert
27/04/2015(Xem: 13316)
Tờ Thời Luận San Francisco (San Francisco Chronicle) một nhật báo lớn của Mỹ, ngày 17 tháng 9 năm 2008 có đăng một bài mang tựa: "Đạo Ki-tô đang phát triển nhanh chóng ở Mông Cổ, các nhà truyền giáo đã cải đạo cho hàng nghìn người trong khi những người Phật Giáo đang nơm nớp lo sợ là truyền thống văn hóa của mình sẽ bị mất đi" (Christianity growing fast in Mongolia, Missionaries convert thousands while Buddhists fear losing traditional culture), tác giả là Michael Khon một ký giả trong nhóm bình luận gia thời sự quốc tế trong ban biên tập của tờ báo này. Bài báo khá xưa, cách nay đã hơn sáu năm, thế nhưng cũng không hẳn là lỗi thời, bởi vì tình trạng trên đây chẳng những vẫn còn đang tiếp diễn ở Mông Cổ mà cả nhiều nơi khác trên thế giới. Bài báo cũng đã được một trang mạng Phật Giáo có tầm cỡ quốc tế với 9 thứ tiếng khác nhau là Buddachannel dịch sang tiếng Pháp và đăng tải ngày 6 tháng 2 năm 2009, với tựa ngắn hơn: "Phật Giáo Mông Cổ đang bị mất đà" (Le Bouddhisme Mongol en perte de
19/04/2015(Xem: 16725)
Từ Đàm là ngôi chùa cổ mà không cổ. Chùa cổ, nếu tính theo năm sinh, khoảng 1690. Khi chùa khai sinh, Trịnh Nguyễn hãy còn phân tranh, mỗi mái chùa dựng lên ở phương Nam là mỗi bước chân mở đường Nam tiến sống chết của dân tộc.
19/04/2015(Xem: 4650)
Công cuộc hiện đại hóa giáo dục đại học ở Trung Quốc bắt đầu từ việc chính phủ Mãn Thanh xây dựng “Kinh Sư Đại Học Đường” (năm 1912 chính phủ Dân Quốc thành lập đổi tên thành Đại Học Bắc Kinh) năm 1910 chiêu sinh sinh viên chính quy đầu tiên. Trước năm 1920, Đại học ở Trung Quốc đều là dân lập như Đại học Đông Ngô, Đại học Tế Lỗ, Đại học Saint Jonhs. Theo tư liệu thống kê vào lúc đó trên 80% sinh viên đều theo học tại các trường Đại học do giáo hội Cơ Đốc giáo (đạo Chúa và đạo Tin Lành) thành lập.
29/01/2015(Xem: 7928)
Theo thời gian lịch sử và không gian vật lý, thì đệ tử Như Lai đều cho rằng núi Thiếu và khe Tào (Tào khê) là địa danh gắn liền với hành trạng Tổ Đạt Ma và Huệ Năng. Bởi đó là Đạo trường hành đạo giáo hóa của các Tổ sư. Đạo trường với quy ước vật lý này đánh dấu những nỗ lực bình sinh sau cùng để các Chân nhân Tổ sư “ung dung xô cửa huyền vi bước vào Đạo”. Để rồi cánh cửa ấy khai phóng nguồn năng lượng siêu nhiên tuôn chảy miên tục, “chắp cánh cho Đạo mầu bay vào cát bụi của kiếp người”.
09/11/2014(Xem: 7877)
Roberto Baggio, 47 tuổi, gần đây đã mở một trung tâm Phật giáo ở ngoại ô thành phố Milan. Gần 1,000 người đã tập trung tại trung tâm Phật giáo lớn nhất châu Âu này. Baggio nói với các phóng viên, “ Điều quan trọng nhất của đời tôi là khi tôi tìm thấy Phật giáo. Ngày nay nhiều người đang cố gắng tìm hiểu triết lý này, vì vậy việc lập ra trung tâm này, trong một ý nghĩa nào đó, là khởi điểm của một dự án lớn.” Baggio được đám đông đón chào nồng nhiệt, và anh đã hướng dẫn một buổi thiền định tại đây. Thường được gọi với biệt danh (tóc) Đuôi ngựa Thần thánh, Baggio đã ghi bàn 27 lần trong 56 trận bóng đá cho đội tuyển Ý. Baggio cải đạo sang Phật giáo cách đây 27 năm và trở thành một trong những người Ý nổi tiếng nhất làm như vậy. Ghi bàn hơn 200 lần trong bóng đá Ý, Baggio được xem là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại ở đất nước này. (tipitaka.net – November 1, 2014)
07/11/2014(Xem: 39383)
Nói "Chùa Khánh Anh sau 30 năm" có nghĩa là đã bắt đầu bước sang năm thứ 30+1... Thật vậy, chùa Khánh Anh bắt đầu sinh hoạt từ Lễ Phật Đản 1974, tức 1 năm trước biến cố lịch sử 30/4/1975. Tại sao lại không phải là sau ngày 30/4/75 như nhiều nơi khác, và nhiều chùa khác ở hải ngoại? Thưa quý vị và bà con cô bác, đó mới là có chuyện để kể lại. Và cái đoạn này có nhiều chuyện để kể lắm. Nghĩa là nguyên nhân do đâu, và từ bao giờ đưa đến việc thành lập chùa Khánh Anh trước năm 75 và sinh hoạt cho đến ngày hôm nay?
25/10/2014(Xem: 30402)
Trong bất cứ một cộng đồng nào đều có nhiều tầng lớp khác nhau, nhiều chủng loại con người khác nhau sống cùng trong đó, thì chắc chắn luôn có sự hiện diện của nhiều mặt tư tưởng khác nhau, phát sinh nhiều vấn đề liên quan. Vì vậy để gìn giữ một cuộc sống yên bình cho một cộng đồng, con người phải có nhiều phương pháp để hòa giải mọi sự khác biệt. Xuyên suốt trong lịch sử của loài người, đã có rất nhiều lời đề xuất để giải quyết, thậm chí phải sử dụng đến phương sách bạo động, chẳng hạn như chiến tranh, xung đôt nhằm giải quyết sự khác biệt.
21/10/2014(Xem: 12458)
Hans Küng, sinh năm 1928 tại Sursee, Thụy Sĩ, là Giáo sư Thần học hồi hưu thuộc Đại học Tübingen, Đức. Ông đã sáng lập Hiệp hội Đạo đức Thế giới (Stiftung Weltethos) mà hiện nay ông đang là Chủ tịch Danh dự. Với nhiều công trình nghiên cứu khoa học về các tôn giáo và các đóng góp to lớn về nỗ lực liên tôn cho hoà bình thế giới, ông được nhiều giải thưởng cao qúy và được vinh danh là một nhà tư tưởng quan trọng nhất đương đại. "Auf den Spuren des Buddha" là một trích đoạn từ trong tập hồi ký: “Erlebte Menschlichkeit, Erinnerungen“, Piper, München, Zürich, 2. Aufl. 2013, 377-403.