02. Bốn Ðế

10/10/201112:59(Xem: 12161)
02. Bốn Ðế

CÁC BÀI
HỌC PHẬT
PHÚC TRUNG Huỳnh Ái Tông

Phần 2: GIÁO LÝ CĂN BẢN

Bốn Đế

I. - Dẫn:Bốn đế, Bốn thánh đế hay Tứ diệu đế là một bài Pháp đầu tiên, đức Phật đã giảng dạy cho nhóm Kiều Trần Như, những người cùng tu khổ hạnh với Phật trong nhiều năm trước, bài nầy đánh dấu đức Phật đã chuyển bánh xe Pháp, tức là Ngài đem chân lý ra để giảng dạy cho mọi người, ngõ hầu nhận thức được cuộc đời là khổ, cần phải tu tập để gỉai thoát vĩnh viễn mọi nỗi khổ của con người.

II. - Bốn đế:Thái tử Tất Đạt Đa sau khi ra bốn cửa Đông, Tây, Nam, Bắc của thành Ca Tỳ La Vệ, người đã nhận thức được sanh, lão, bệnh, tử đều là khổ, con người không thể tránh được do lòng thương chúng sanh, Ngài quyết từ bỏ cung vàng, điện ngọc, vợ đẹp, con ngoan chí quyết đi tìm phương thức giải thoát sanh, lão, bệnh, tử đó. Khi đã chứng ngộ được chân lý, Ngài mới chỉ cho người ta thấy cái khổ, chỉ những nhân tố gây ra khổ, cho biết diệt được khổ thì sẽ được quả vị an vui và Ngài chỉ cho con đường tu tập để giải thoát khỏi khổ, tóm lại Bốn đế là: Khổ đế, Tập đế, Đạo đế và Đạo đế.

1) Khổ đế: Có người sẽ nghĩ rằng cuộc đời có chi là khổ? Có người tự nhận thấy mình chẳng có gì khổ cả, nhưng chúng ta thử nhìn xung quanh, có biết bao nhiêu là cảnh khổ, người nghèo có cái khổ của người nghèo, nguuời giàu có nỗi khổ của người giàu. Có thể chia khổ làm 2 loại : Ba khổ hay Tám khổ.

1) Ba khổ:

a) Khổ khổ: Sanh ra đời làm thân người đã là khổ rồi, lại có những nỗi đắng cay cuộc đời làm cho chúng ta khổ thêm.

b) Hành khổ: Những biến dịch thời tiết ấm lạnh, đói rét cơ hàn, chiến tranh, thiên tai, bảo lụt đều làm cho con người phải chịu khổ.

c) Hoại khổ: Những sự hư hoại, cũng làm cho con người phải khổ, chẳng hạn thân ta vì sự hư hoại làm cho con người đau yếu, bệnh tật, đều là khổ, có những thứ chúng ta quý mà vì sự huỷ hoại của nó làm cho chúng ta luôn luôn khổ.

2) Tám khổ:

a) Sanh:Trong đời ai cũng có nỗi khổ, cho nên nói sanh là khổ.

b) Lão: Già sức khoẻ yếu kém, hay bệnh tật, tai lảng, mắt kém, những thứ đó luôn làm cho người già cảm thấy khổ đau.

c) Bệnh: Mọi bệnh tật đều làm cho người bệnh phải chịu khổ đau.

d) Tử: Làm người ai cũng ham sống sợ chết, chết phải bỏ sự nghiệp còn dang dở, bỏ người thân yêu, bỏ của cải cho nên chết là nỗi khổ lớn nhất cho con người.

e) Cầu bất đắc khổ: Những gì mình mong cầu như muốn có một căn nhà đẹp, một chiếc xe đẹp... mà không được, có những người muốn phụng dưỡng cha mẹ mà không được, dạy dỗ con cái nên người mà không được, đều lao tâm, khổ trí.

g) Ái biệt ly khổ: Những cuộc chia ly với người thân như cuộc chia ly xa xứ cũng đã khổ, lại còn nổi khổ nào hơn, nếu người thân của mình mất, đau khổ này người ta diễn tả ruột đứt từng cơn.

h) Ngũ ấm xí thạnh khổ: Năm ấm là Sắc ấm, Thọ ấm, Tưởng ấm, Hành ấm và Thức ấm là những thứ làm cho con người chúng ta bị khổ.

i) Oán tắng hội khổ: Những thứ chúng ta ghét mà gặp phải đã là khó chịu, con người với nhau mà đã ghét bỏ nhưng lại ở gần nhau, thường gặp nhau đều là những hoàn cảnh gây đau khổ cho chúng ta.

2) Tập đế:Khổ hiện tại của mỗi người đều do nguyên nhân từ những kiếp trước tạo thành, nó cột chặt và khiến ta phải gánh chịu những quả báo, phiền não tuy có nhiều nhưng chia thành mười thứ:

1) Những phiền não có tánh chất nặng nề:

a) Tham: Ham muốn gây ra việc bất chánh.
b) Sân:Giận dữ, nóng nãy thường hay làm bậy.
c) Si: mê muội, sai lầm nông nỗi.
d) Mạn: Cống cao ngã mạn, cho mình hay giỏi hơn người, từ đó làm những việc sai lầm.
g) Nghi: Nghi kỵ gây ra hiềm thù, hồ nghi nên khó có chánh tín.

2) Những nhận thức sai lầm:

a) Thân Kiến:Chấp thân này có thật.
c) Biên kiến: Chấp có một bên, không đúng sự thật.
c) Tà kiến: Thấy biết theo đường tà, không đúng chánh lý.
d) Kiến thủ: Cố giữ cái thấy, biết sai lầm của mình, không nhận ra chánh lý.
e) Giới cấm thủ: Tin tưởng và thực hành theo những giới điều sai lầm.

3) Diệt đế:Đức Phật chỉ cho thấy rằng chúng sinh cần phải diệt khổ, khi đã diệt khổ tức là tâm luôn luôn an trú trong tịch tĩnh, thường còn, giải thoát khỏi sanh tử luân hồi gọi là Niết Bàn. Cho nên Niết Bàn có 3 đặc tính: 1) Không còn sanh lại. 2) Tâm thanh tịnh vắng lặng. 3) Giải thoát mọi mê lầm, phiền não.

Quả vị Niết Bàn có khác, những người chứng ngộ được Bốn đế nầy, thuộc hàng Thanh Văn, có 4 quả vị thánh chứng:

a) Tu Đà Hoàn: Người Tàu dịch là Dự Lưu có nghĩa là dự vào hàng thánh quả hay Nghịch Lưu có nghĩa là đi ngược với những người không tu; những vị này đã hiểu rõ Bốn đế.

b) Tư Đà Hàm:Người Tàu dịch là Nhứt sanh nghĩa là còn một lần phải sanh vào cõi dục giới.

c) A Na Hàm: Người Tàu dịch là Bất lai nghĩa là không còn bị sanh trở lại vào dục giới nhưng nhân sanh vẫn còn.

d) A La Hán: Người Tàu dịch là bất sanh, quả vị nầy là cứu cánh của tiểu thừa, đạt đến quả vị này không còn sanh tử trong ba giới (dục giới, sắc giới và vô sắc giới).

4) Đạo đế : Là đường dẫn người ta đến cõi Niết Bàn, đây là Tám đường chánh (Bát Chánh Đạo) phải đi:

a) Chánh tri kiến: Những điều tìm hiểu, thấy, biết theo đường chánh và giảng giải không trái sự thật.

b) Chánh tư duy: Những gì suy tư phải là những việc chánh đáng, không tà vạy, xấu xa, ác độc.

c) Chánh ngữ:Lời nói phải ngay thẳng, ôn hòa, đúng giáo lý.

d) Chánh nghiệp :Hành động phải chân chính, hữu ích cho mọi người, mọi loài.

e) Chánh mạng:Sanh hoạt, nghề nghiệp phải chân chánh.

g) Chánh tinh tấn: Phải tiến trên đường tu hành.

h) Chánh niệm: Những nhớ tưởng việc đã qua hay sắp đến chỉ để tâm đến những việc chân chánh, những việc không chân chánh không nhớ, tưởng đến.

i) Chánh định: Định tâm theo phương pháp chân chánh để trí huệ phát sinh.

Khổ và Tập đế là nhân quả trong thế gian, Diệt và Đạo đế là nhân quả vượt ngoài thế gian.

Đạo đế của Bốn đế chỉ gồm có Tám đường chánh, như bước sơ cơ, là nền tảng cho người mới bước vào đường tu. Thật ra thì con đường tu chính yếu gồm có 37 phẩm trợ đạo, chia làm 7 loại:

1) Tứ niệm xứ (quán thân bất tịnh, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã, quán thọ thị khổ).

2) Tứ chánh cần (tinh tấn ngăn ngừa điều ác chưa phát sinh, tinh tấn dứt trừ những điều ác đã sinh, tinh tấn phát triển những điều lành chưa sinh, tinh tấn phát triển những điều lành đã sinh).

3) Tứ như ý túc (dục như ý túc, tinh tấn như ý túc, nhất tâm như ý túc, quán như ý túc).

4) Ngũ căn (tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, huệ căn).

5) Ngũ lực (tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, huệ lực).

6) Thất bồ đề phần (trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, niệm, định, xả).

7) Bát chánh đạo (chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định).

III.- Kết luận:Bốn đế là một bài giảng hết sức quan trọng, trước tiên nó đánh dấu bài pháp khởi đầu của Phật, bánh xe pháp khởi đầu chuyển động, đối với Phật tử nó cũng quan trọng vì đó là nhận thức cơ bản, thấy được Bốn đế nầy là chân lý từ đó người Phật tử mới có thể tin giáo lý của Phật, những điều thấy, biết được và cả những điều không thể nghĩ bàn đều là chân lý, theo đó tu hành để đạt tới từng chặng đường của Tam thừa (Ba cỗ xe): Thinh Văn (xe dê) là những vị hiểu rõ và hành theo Bốn đế, đắc đạo thành La Hán và nhập Niết Bàn; Duyên Giác (xe hươu) là những vị tuân lời Phật dạy, tu hành và diệt Mười hai nhân duyên đắc quả Duyên Giác, nhập Niết Bàn; Bồ Tát (xe trâu) là những vị tuân lời Phật dạy cầu được toàn giác, an lạc cho mình vừa tế độ chúng sanh qua Sáu độ (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thuyền định và trí tuệ) thành Bồ Tát. Vượt lên trên hết chỉ là nhất thừa, ấy là Phật thừa, quả vị cao tột mà mọi người trì chí công phu tu tập, đều sẽ tới đó được.

Sách tham khảo :

HT. Thích Thiện Hoa Phật Học Phổ Thông,THPGTPHCM, Việt Nam, 1989

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/02/2016(Xem: 13668)
Giới thiệu: Nhân dịp Xuân - Tết Cổ truyền Dân tộc, trân trọng giới thiệu bài viết Từ Quốc tộ đến bài thơ Thần như là món quà ghi nhớ lại nền lịch sử văn học Việt Nam nói chung và tư tưởng Triết học Phật giáo Việt Nam nói riêng trong các vấn đề về Quốc gia, Dân tộc trong bối cảnh: Phật giáo đã đóng góp gì cho Dân tộc và lịch sử Việt Nam?
19/01/2016(Xem: 8590)
Năm nay, 2016, đánh dấu 50 năm Phật Giáo Việt Nam có mặt tại Hoa Kỳ, tính từ năm 1966, khi mà Cố Hòa Thượng Thích Thiên Ân đến Mỹ dạy tại Đại Học UCLA và ở lại luôn để truyền bá Phật Giáo Việt Nam tại đây. Vì vậy, Cố Hòa Thượng Thích Thiên Ân là vị sơ tổ của Phật Giáo Việt Nam tại Mỹ. Nhưng trước hết xin nhìn thoáng qua một chút về bối cảnh Phật Giáo Mỹ.
06/01/2016(Xem: 26341)
Có thể nói Phật giáo Việt Nam trong tình hình phát triển hiện nay tuyệt đại bộ phận do sự tác động mạnh mẽ của bảy dòng thiền chính, trong đó bốn dòng trực tiếp kế thừa các dòng thiền từ Trung Quốc và bốn dòng được phát sinh tại đất nước ta. Bốn dòng từ Trung Quốc, nếu dựa vào thứ tự truyền nhập vào Việt Nam là các dòng Bút Tháp của Viên Văn Chuyết Công (1590 – 1644), dòng Thập Tháp của Siêu Bạch Thọ Tông (1648–1728), dòng Quốc Ân của Nguyên Thiều Hoán Bích (1648–1728), cả ba dòng này đều thuộc phái Lâm Tế và dòng Hòe Nhai của Thủy Nguyệt thuộc phái Tào Động. Ba dòng còn lại thì đều xuất phát tại Việt Nam hoặc do kết hợp một dòng từ Trung Quốc như Bút Tháp với một dòng tồn tại lâu đời tại Việt Nam như Trúc Lâm, mà điển hình là dòng Long Động của thiền sư Chân Nguyên Tuệ Đăng (1647–1726) hoặc do các vị thiền sư người Việt Nam hay Trung Quốc hành đạo tại Việt Nam xuất kệ thành lập dòng mới, cụ thể là các dòng thiền Chúc Thánh của thiền sư Minh Hải Pháp Bảo (1670–1746) và Thiên Thai
14/12/2015(Xem: 6819)
Kho báu cổ vật trong bảo tàng Phật giáo đầu tiên ở Việt Nam Hơn 500 cổ vật Phật giáo, trong đó có hiện vật được đánh giá ngang tầm bảo vật quốc gia, đang được trưng bày tại Bảo tàng văn hóa Phật giáo ở Đà Nẵng.
15/11/2015(Xem: 13453)
Thời gian chỉ là một khái niệm vô hình vô ảnh của nhân loại ; nhưng nó có thể được biểu hiện bởi sự chia chẻ tính đếm qua giây, phút, khắc, giờ, ngày, tuần, tháng, quý, năm, thế kỷ, thiên kỷ. . . và qua sự biến đổi, di dịch, của vật thể và sinh loại trong không gian. Như vậy, tuy vô hình, thời gian cũng để lại vết tích của nó qua các dữ kiện, sự kiện được ghi lại trong sử liệu của số đông, hoặc chỉ là những dấu ấn kỷ niệm trong tâm thức mỗi cá nhân—trong đó, bao gồm tất cả những thành tựu vinh quang hay thất bại đầy tủi nhục của những con người và tập thể trần gian mà họ tùy thuộc, tương thuộc
29/09/2015(Xem: 9640)
Những chế độ độc tài chuyên nghiệp như đảng CSVN không hề sơ hãi những cá nhân chống đối. Cái mà họ sợ là những cá nhân kết hợp thành tổ chức (hoặc hội đoàn) để chống đối. Khi người cộng sản khống chế xã hội dân sự qua điều 4 hiến pháp, thì họ không những cấm đoán sự hình thành của những tổ chức độc lập, mà họ còn thành lập những tổ chức cuội, của chính họ, để phô trương một xã hội dân sự giả tạo, và xâm nhập mọi cơ sở kinh tế hay xã hội khác, để kiểm soát và điều hướng.
24/07/2015(Xem: 10313)
Bài tiểu luận "Ảnh hưởng Phật giáo trong pháp luật triều Lý" đã được viết vào tháng giêng năm 1971 tại Saigon. Tạp chí Từ Quang đã đăng từ số 225 đến 258 (từ tháng 6 đến 9 năm 1974). Tạp chí Từ Quang là Cơ quan truyền bá đạo Phật của Hội Phật Học Nam Việt, trụ sở ở chùa Xá Lợi tại Saigon (bên hông trường Gia Long cũ), do cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền, cố Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hoá thời Đệ Nhị Cộng Hoà miền Nam, làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Sau khi cụ Mai Thọ Truyền qua đời thì cụ Minh Lạc Vũ Văn Phường làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Tôi xin trân trọng cống hiến quý độc giả Đặc San Chánh Giác của Chùa Hoa Nghiêm ở Toronto. Toronto, ngày 01 tháng 04 năm 1991 NVT
06/07/2015(Xem: 15501)
(Bài này được trích dịch từ tài liệu có tên “Những Giới Hạn Trong Các Vùng Biển” (Limits In The Seas) mang số 143 với tựa đề “Trung Quốc: Tuyên Bố Chủ Quyền Biển Trong Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông)” (China: Maritime Claims In The South China Sea) được Văn Phòng của Vụ Đại Dương và Vùng Cực (Office of Ocean and Polar Affairs), Văn Phòng của Vụ Đại Dương và Môi Trường và Khoa Học Quốc Tế (Bureau of Ocean and International Environmental and Scientific Affairs) của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ (US Department of State) công bố ngày 5 tháng 12 năm 2014 – (Nguồn: http://www.state.gov/documents/organization/234936.pdf ). Mục đích của nghiên cứu này là để xem xét tuyên bố về biển và/hay các biên giới của Bộ Ngoại Giao và đánh giá sự phù hợp với luật quốc tế. Nghiên cứu này đại diện quan điểm của Chính Phủ Hoa Kỳ chỉ đối với những vấn đề đặc biệt được thảo luận trong đó và không nhất thiết phản ảnh sự chấp thuận những giới hạn được tuyên bố. Các phân tích gia chính cho nghiên cứu này là Kevin Baumert
27/04/2015(Xem: 13293)
Tờ Thời Luận San Francisco (San Francisco Chronicle) một nhật báo lớn của Mỹ, ngày 17 tháng 9 năm 2008 có đăng một bài mang tựa: "Đạo Ki-tô đang phát triển nhanh chóng ở Mông Cổ, các nhà truyền giáo đã cải đạo cho hàng nghìn người trong khi những người Phật Giáo đang nơm nớp lo sợ là truyền thống văn hóa của mình sẽ bị mất đi" (Christianity growing fast in Mongolia, Missionaries convert thousands while Buddhists fear losing traditional culture), tác giả là Michael Khon một ký giả trong nhóm bình luận gia thời sự quốc tế trong ban biên tập của tờ báo này. Bài báo khá xưa, cách nay đã hơn sáu năm, thế nhưng cũng không hẳn là lỗi thời, bởi vì tình trạng trên đây chẳng những vẫn còn đang tiếp diễn ở Mông Cổ mà cả nhiều nơi khác trên thế giới. Bài báo cũng đã được một trang mạng Phật Giáo có tầm cỡ quốc tế với 9 thứ tiếng khác nhau là Buddachannel dịch sang tiếng Pháp và đăng tải ngày 6 tháng 2 năm 2009, với tựa ngắn hơn: "Phật Giáo Mông Cổ đang bị mất đà" (Le Bouddhisme Mongol en perte de
06/04/2015(Xem: 9275)
Khi Mâu Tử, một tri thức Tàu, tị nạn tại Giao Châu và viết trong Lý Hoặc Luận vào cuối thế kỷ thứ 2 sau tây lịch rằng, “Đất Hán chưa chắc là trung tâm của trời đất,”[1] cho thấy tại Giao Châu lúc bấy giờ, đã là một lãnh địa hùng cứ ở phương Nam không thua kém gì nước Tàu tại phương Bắc. Sử gia Lê Mạnh Thát nhận định về điều này như sau trong bộ Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam: