Sơn Hà Nguy Biến

01/12/201309:04(Xem: 4150)
Sơn Hà Nguy Biến

 

 chuamotcot

 

SƠN HÀ NGUY BIẾN

 

                                                                                                                                                                                                 

       Như quí vị đã biết, trước hết tôi là một tu sĩ Phật Giáo, hoằng pháp độ sanh là sứ mệnh thiêng liêng của người tu hành. Sứ mệnh thiêng liêng đó không ngoài đường phục vụ con người và xã hội mà nhà sư đang sống trong cõi đời ta bà khổ lụy nầy!

       Phật Giáo Việt nam có truyền thống từ ngàn xưa là gắn bó, sát cánh cùng dân tộc trong mọi thăng trầm của Tổ Quốc, lúc hưng thịnh, khi suy vong, bao nhiêu phen giặc giã, Phật Giáo không bao giờ khoanh tay đứng ngoài, nên những bậc Danh Tăng thời Lê, Lý, Trần như các Ngài Pháp Thuận, Vạn Hạnh, Viên Thông, Trần Nhân Tông v.v… đã cống hiến trọn đời cho Đạo Pháp và Dân Tộc. Các Ngài là những người thực sự quan tâm đến đời sống của dân chúng, bắt mạch được cái nhu cầu đích thực của các thành phần trong xã hội để phục vụ.

       Chúng ta kính ngưỡng các Ngài qua các hạnh nguyện Bồ Tát, vì các Ngài đã không ngừng phục vụ chúng sinh (Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ).

      Thời nay theo gót những dấu chân vĩ đại, chỉ có những bậc tu hành chân chính, dũng cảm hơn người như Hòa thượng Thích Thiện Minh, Hòa thượng Thích Huyền Quang, Hòa thượng Thích Quảng Độ, Linh mục Nguyễn Văn Lý, Cụ Lê Quang Liêm v.v….. Các Ngài vì quá thương dân mà không biết khuất phục, không biết nãn lòng, làm sao chịu đựng được hàng triệu dân lành đang bị đàn áp, khốn khổ, mà các Ngài có thể ngồi yên (thuần túy tu hành)!

      Làm sao có thể tĩnh tâm tọa thiền (mũ ni che tai) khi nghe những tiếng kêu cứu xé ruột của dân oan đang vang vọng ngoài đường ngày nầy qua tháng khác, dội vào cửa Tam Bảo!  Làm sao có thể tĩnh tọa khi Trung Cộng bắn giết ngư dân Việt Nam trên vùng biển của Tổ Tiên!  Làm sao có thể tĩnh tọa được khi người Tàu ồ ạt vào đào xới Tây nguyên?  Làm sao có thể an tâm khi biết bọn Hán tặc cướp lấy Hoàng Sa, Trường Sa, một phần cơ thể của Việt Nam!  Làm sao có thể ngồi yên nín lặng  khi nhìn thấy bọn Hán tặc đưa dân tràn ngập trên mọi miền đất nước từ Bắc tới Nam. Thủ đoạn Hán hóa Việt Nam thành Tỉnh, Quận của bọn Trung cộng, họ đã tiến hành một cách ngang ngược, xấc xược trước dư luận quốc tế, trước sự dũng cảm của dân tộc ta yêu chuộng hòa bỉnh, đã đứng lên chống giặc Tàu cộng xâm lăng đất nước Việt Nam.

      Thưa cùng Quốc dân Đồng bào Việt Nam yêu quí ! Ai cũng có thể hiểu: “Chủ yếu Giáo Pháp Phật là phát triển lòng Đại Bi Tâm, Lợi Tha Vô Ngại.” Nếu chư Tăng khước từ hai nguyên lý căn bản nầy là khước tư Phật Giáo. Họ cũng không còn tin vào luật nhân quả. Họ không hiểu được rằng: “ Những bất hạnh của Đồng bào và vận mệnh của Tổ quốc có liên quan (tương duyên) đến sự sống còn của Phật giáo Việt nam. Cho nên việc đầu tiên của chư Tăng là phục vụ chúng sinh (Tình dân tộc, nghĩa đồng bào). Ngoại trừ điểm nầy ra phải chăng là kẻ nói dối. Người tu hành biết nghĩ đến đồng bào (Đàn Việt) như là mạch nguồn “Đại Ân Sũng” để phụng hiến vào tiến trình tu học của mình. Nếu không có Đồng bào (Đàn Việt) cúng dường thì người Tu sĩ sẽ không có phương tiện xây chùa, đúc chuông, tạc tượng và cũng không có cơ hội tu hành yên ổn, tĩnh tâm khi đất nước bị xâm lăng…. do vậy, người tu (Tăng Sĩ) lúc nào cũng phải nghĩ đến công ơn tín chủ, đàn na. Người nhận lãnh phải thể hiện bằng cả tấm lòng và hành động cụ thể. (Món vay món trả phải đồng. Người dâng vật quí là mong phước lành), nên chi pháp cúng ngọ hằng ngày và trước khi thọ thực, chư Tăng đều tụng bài nguyện:

Hai tay bưng bát cơm đầy.

Công lao khó nhọc bao người làm nên.

Ân sâu xin nguyện đáp đền.

Lòng thường cổi mở đi trên cuộc đời.

Hoặc là:   

    Bát cơm ai sắm cực lòng.

Ta ăn phải nhớ tấm công ơn người.

………………………………………

        Do vậy mà chúng tôi, những người Tu sĩ Phật Giáo, đứng trước tình trạng “Đất Nước Lâm Nguy, Dân Tình Thống Khổ”, bởi ách nạn cộng sản độc tài đảng trị, hèn hạ, cúi đầu bán nước cho Trung cộng, dâng biển đảo, núi rừng cao nguyên cho bọn Hán tặc Tàu cộng, hoành hành trên Quê Hương Đất Tổ của chúng ta. Than ôi ! Than ôi !!

      Những lời tâm huyết trên đây đã ràn rụa sau những tháng ngày ngập tràn nước mắt, âm thầm không thốt lên lời để trình bày cùng ai! Nhưng nỗi ấm ức nghẹn ngào nuốt lệ dài lâu!  buộc lòng tôi ghi lên trang giấy, vì không nén được niềm đau thống thiết, úp mặt trên mảnh Y Vàng thấm nguồn lệ nóng nồng cay!

       Xin ơn trên tha tội.!. Xin lỗi Chư Tôn Đức Tăng Ni và các bậc thức giả, cùng đồng bào thân mến muôn phương nơi hải ngoại cùng quốc nội thứ lỗi cho.!.

                                                  

                                                Tại Pháp Duyên Tịnh xá

                                         Thành phố Fresno, trọng đông 2013

 

                                         Tỳ kheo Thích Giác Lượng

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/08/2011(Xem: 4929)
Mỗi trang sử là một bài thơ hùng tráng, lẫm liệt, đôi khi lại là thất bại khổ đau, có sức mạnh làm rung động lòng người không ít. Nghiên cứu lịch sử là tìm hiểu về những hình ảnh, sự kiện và tư tưởng của từng thời đại; đón tìm một tia sáng bất diệt cho tương lai.
10/08/2011(Xem: 4565)
Nói đến nhà Trần, người Việt Nam thường liên tưởng đến chiến tích oai hùng của nước Đại Việt với ba lần đánh bại quân Mông - Nguyên (1258, 1285, 1288), nối tiếp cha ông làm dày thêm những trang sử chống xâm lược vẻ vang của dân tộc.
10/08/2011(Xem: 4737)
Lịch sử Phật giáo không có nhiều người tu hành đắc đạo, trong đó càng không có nhiều người từng là vua như Trần Nhân Tông. Và trong số đó càng không có nhiều vị vua hai lần trực tiếp cầm quân đánh tan xâm lược Nguyên Mông hùng mạnh từng chinh phục cả thế giới thời đó. Nhìn ở góc độ nào, thì việc mãi đến hôm nay mới làm lễ kỷ niệm, tưởng nhớ và đề nghị UNESCO công nhận Trần Nhân Tông danh nhân văn hóa thế giới là một thiếu sót và chậm trễ đáng tiếc. Và, cũng sẽ lại thêm một thiết sót đáng tiếc nữa nếu lần hội thảo khoa học về thân thế và sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông này, chuyện gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân đem về Châu Ô, Châu Lý vì một lý do nào đó lại không được đem ra nhìn nhận một cách thấu đáo.
07/08/2011(Xem: 17049)
Nói đến tinh thần "Hòa quang đồng trần" tức là nói đến tinh thần nhập thế của đạo Phật, lấy ánh sáng của đức Phật để thắp sáng trần gian, “sống trong lòng thế tục, hòa ánh sáng của mình trong cuộc đời bụi bặm”, và biết cách biến sứ mệnh đạo Phật thành lý tưởng phụng sự cho đời, giải thoát khổ đau cho cá nhân và xã hội. Thời đại nhà Trần và đặc biệt vua Trần Nhân Tông (1258-1308) đã làm được điều này thành công rực rỡ, mở ra trang sử huy hoàng cho dân tộc.
13/07/2011(Xem: 4994)
Ở quê tôi, đa phần các làng đều có chùa và đình. Ngày xưa lúc còn bé, tôi và những đứa trẻ trong làng hay đến chùa và đình vào những dịp lễ để vui đùa và ăn ké theo người lớn. Những hình ảnh về các sinh hoạt lễ hội của chùa và đình vẫn còn in đậm trong ký ức tôi cho đến ngày nay.
07/07/2011(Xem: 38166)
Lời Ban Biên Tập: Nhằm mục đích góp phần giúp thế hệ trẻ Việt Nam ở trong nước cũng như ở hải ngoại biết rõ lịch sử Việt Nam trong năm 1963 xảy ra như thế nào và nhất là để có nhận thức sâu sắc hơn về điều mà dân tộc đã khẳng định: “Phật giáo Việt Nam với dân tộc như hình với bóng, tuy hai mà một”. Cho nên chúng tôi lưu trữ vào Thư Viện Hoa Sen CÁC BẢN DỊCH TỪ KHO DỮ LIỆU BỘ NGOẠI GIAO, BỘ QUỐC PHÒNG, CƠ QUAN TÌNH BÁO TRUNG ƯƠNG & CÁC NGUỒN KHÁC đã giải mật. Các tư liệu này có liên quan đến sự kiện lớn trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Sự việc này chắc chắn sẽ có những ý kiến ủng hộ và chống đối, nhưng lịch sử vẫn là lịch sử. Ban biên tập website Thư Viện Hoa Sen chân thành cảm tạ nhà văn Cư sĩ Nguyên Giác, Cư sĩ Nguyễn Kha, và Nhà Xuất Bản Thiện Tri Thức Publications đã gửi tặng các phiên bản vi tính điện tử và trân trong giới thiệu đến toàn thể quý độc gỉa trong và ngoài nước.
02/07/2011(Xem: 13037)
Trải qua hơn 25 thế kỷ, đạo Phật tồn tại đến ngày nay là do sự truyền thừa từ đức Phật đến chư tổ. Tổ lại truyền cho tổ, ‘Tổ tổ tương truyền’ tiếp diễn từ đời nầy sang đời khác. Sự truyền thừa được thể hiện qua hai phương diện giáo lý và thật hành. Về phần giáo lý thì mỗi tông phái đều sáng lập giáo nghĩa, tông chỉ riêng biệt và đều lấy kinh điển của Phật làm nền tảng. Về phần thật hành hay phần sự có khác biệt là tùy theo giáo nghĩa và tư tưởng của mỗi tông. Mỗi tông phái đều truyền bá và xiển dương pháp môn của mình trong tông môn và quần chúng Phật tử. Mỗi tông phái của đạo Phật được ví như mỗi loại hoa của vườn hoa Phật pháp. Mỗi loại hoa có nét đẹp và hương thơm riêng biệt, để khoe sắc hương, nhưng tất cả đều ở trong vườn tịnh của Phật pháp. Cũng như vậy, mỗi tông phái đều là của đạo Phật và đều cùng mang một vị, đó là vị ‘giải thoát’. Trong phần sưu tập về tông phái Thiên thai, chúng tôi chia thành hai giai đoạn chính. Đó là sự sáng lập tông phái ở Trung Quốc, sau nhiều thế kỷ
23/06/2011(Xem: 5201)
Phật giáo từ Ấn Độ truyền vào Việt Nam từ rất sớm có thể từ trước công nguyên. Tuy là một tôn giáo ngoại nhập nhưng các nhà nghiên cứu thường thống nhất rằng mỗi dân tộc đều có một ông Phật của riêng mình. Vậy thì cái riêng, bản sắc Phật giáo Việt Nam là gì ? Các nhà nghiên cứu đã thừa nhận Phật giáo thời Lý Trần là tinh hoa, đỉnh cao của Phật giáo Việt Nam và văn hóa Việt Nam. Chính Phật giáo Lý Trần đã góp phần làm nên cái chất Đại Việt, làm nên cái hào khí Đông A của thời đại, tạo nên bước nhảy vọt về tư tưởng của dân tộc ta lúc bấy giờ, làm nên sự hồi sinh mạnh mẽ của dân tộc sau hơn một ngàn năm bị nô lệ phương Bắc từ năm 111 TCN đến năm 938 SCN. Để góp phần giải đáp cái nét riêng của văn hóa Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là Phật giáo thời Lý Trần có lẽ cần đặt nó trong mối giao lưu, tiếp biến với Phật giáo Ấn Độ, Phật giáo Trung Quốc và tín ngưỡng - văn hóa dân gian bản địa.
23/06/2011(Xem: 5958)
Việt Nam là cái lưng của bán đảo Ấn Trung, vị trí của bán đảo nầy nằm giữa Ấn Độ và Trung Hoa. Vì địa thế nằm giữa hai nước lớn có nền văn hóa cổ xưa nhất của nhân loại nên đương nhiên Việt Nam có ảnh hưởng cả hai nền văn hóa đó, kể cả tôn giáo. Từ phương Bắc, Trung Quốc đã tràn xuống chiếm cứ đất đai với âm mưu đồng hóa dân Việt, biến Việt Nam thành một phần lãnh thổ của họ. Do đó dân Việt chiến đấu không ngừng để sống còn và giữ gìn sự độc lập của mình, thế nhưng không tránh khỏi sự ảnh hưởng qua lại về ngôn ngữ, văn hóa và tôn giáo ...
20/06/2011(Xem: 11846)
Vào năm 1949, tôi đã cùng thầy Trí Hữu, một vị Thượng tọa từ Đà Nẵng thành lập nên Phật Học Đường Ấn Quang ở Sài Gòn. Tôi dạy lớp sơ cấp đầu cho các vị Sadi. Hồi đó tên chùa là Ứng Quang. Chùa vách tre lợp lá rất đơn sơ. Khi đó chiến tranh đang diễn ra giữa quân đội Pháp và lực lượng kháng chiến Việt Minh.