Tiết 2: Sự phát đạt của A Tỳ Đạt Ma

05/01/201202:25(Xem: 7675)
Tiết 2: Sự phát đạt của A Tỳ Đạt Ma

LỊCH SỬ PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ

Pháp sư Thánh Nghiêm- Thích Tâm Trídịch

---o0o---

CHƯƠNG VI
GIÁO NGHĨA CỦA ĐẠI CHÚNG BỘ VÀ HỮU BỘ

TIẾT II. SỰ PHÁT ĐẠT CỦA A TỲ ĐẠT MA

???

Thậm chí Ma Đát Lí Ca, theo các sách xưa cho là có hai loại tính chất:

1. Tỳ Nại Da (luật) như kinh Tỳ Ni Mẫu, và Tỳ Ni tụng của Thập Tụng Luật v.v... Nó còn là cương mục của qui chế Tăng già.

2. Là thuộc Đạt ma (pháp); như Tứ niệm xứ, Bát chánh đạo v.v... có hạng mục liên quan đến việc tu trì thánh đạo.

Về sau có sự biến cải từ từ mới có sự xuất hiện ba loại hình về Ma Đát Lí Ca.

1. Ma Đát Lí Ca của Đồng Diệp Bộ, Bộ này chia Ma Đát Lí Ca thành luận mẫu và kinh mẫu. Luận mẫu gồm tam tánh và tam thọ v.v... có đến một trăm hai mươi hai môn. Kinh mẫu thì có Minh phân pháp và Vô minh phân pháp v.v... có đến bốn mươi hai môn.

2. Kinh Bộ không tin A Tỳ Đạt ma là do Phật thuyết, mà đặc biệt chỉ nói riêng về Ma Đát Lí Ca; theo Kinh Bộ, thì tất cả khế kinh đều là Phật thuyết, để làm sáng tỏ tông yếu Phật pháp một cách quyết định nên mới nói Ma Đát Lí Ca là thuộc về khế kinh.

3. Ma Đát Lý Ca đối với học giả Đại thừa Du già như ngài Thế Thân Bồ tát v.v... thì trước nhất nó nêu lên tông chỉ của luận và rồi theo đó giải thích Luận thư. Tông chỉ này của Thế Thân được thấy trong Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Bà Đề Xá, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Ưu Bà Đề Xá, cùng với Kim Cang Bát Nhã Kinh Luận v.v... của Vô Trước đều thuộc thể tài này.

Xin nói thêm, A Tỳ Đạt Ma lúc khởi sơ là chỉ chung cho cách dùng để xưng tán pháp trong kinh Phật. Do đó, luật Ma Ha Tăng Kỳ của Đại Chúng Bộ có lần đề cập đến “cửu bộ Tu Đa La, gọi tên là A Tỳ Đàm”(6). “A Tì Đàm là gì? Là chín bộ kinh”(7), hay “A Tỳ Đàm là gì? Là chín bộ Tu Đa La”(8). Đấy chính là do sự phát đạt không ngừng của Ma Đát Lí Ca. Đồng thời áo nghĩa của A Tỳ, các luận sư cũng có nhiều cách giải thích. Trong đó có Luật Thiện Kiến - quyển một - của Giác Âm (Buddhaghosa) thuộc Đồng Diệp Bộ(9). Ngài Giác Âm dùng năm nghĩa để giải thích A Tỳ:

1. Ý - đây là nghĩa tăng thượng.

2. Thức - là nghĩa đặc tính.

3. Tán thán - là nghĩa tôn kính.

4. Đoạn tài - là nghĩa khu biệt.

5. Trường - là nghĩa siêu thắng.

Ngài Giác Âm còn đưa ra tám áo nghĩa trong luận Đại Tỳ Bà Sa để giải thích. Ngài Thế Hữu (Vasumitra) nói là có sáu nghĩa, và ngài Hiếp Tôn Giả (Pàrsva) thì cho là có bốn nghĩa(10)

Pháp sư Ấn Thuận qui nạp ý của các nhà, và toát ra ý chủ yếu của A Tỳ Đạt Ma là:

1. Minh liễu phân biệt;

2. Quán diện tưởng trình, cũng phải nói rằng phương pháp tu chứng trong Phật học, và tu chứng theo thứ lớp v.v... là nhờ vào sự truyền thừa, phân biệt thành danh và cú đó là luận thư. Người học Phật dựa vào luận thư để có sự hiểu biết rõ ràng mạch lạc, và chính là phải trải qua công phu văn tư tu, có vậy mới tiến sâu vào cảnh giới thực chứng - rồi rừ chứng mà đưa ra sự giáo hóa, và nhân vào giáo mà tu chứng, khi ấy mới là sự bao quát tất cả của A Tỳ Đạt ma.

- Hệ Luận Thư của hai Bộ lớn.

Sự phát đạt của A Tỳ Đạt Ma đến nay vẫn còn lưu truyền là thuộc hệ Thượng Tọa Bộ. Phát đạt nhất là Đồng Diệp Bộ thuộc Phân Biệt Thuyết của Nam truyền và Tân Tước thuộc hệ Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ của Bắc truyền. Các Bộ khác tuy cũng có phát triển nhưng không nhiều, đặc biệt là luận thư của Đại Chúng Bộ, trong quá khứ chưa thấy có bản Hán dịch nào chú thích bộ luận tạng này. Chỉ có bộ luận Phân Biệt Công Đức được chú thích mà thôi.

Vả lại, Đại Chúng Bộ không phải là không có luận thư, chẳng hạn như thời gian lưu học tại Ấn Độ của Pháp Hiển tại chùa Ba Liên Phất Ba (Pàtaliputra), một ngôi chùa Đại Thừa Phật giáo, ông có đọc được bộ Ma Ha Tăng Kỳ A Tỳ Đàm của Đại Chúng Bộ; thời gian lưu học ở Ấn Độ, ngài Huyền Trang cũng đã dành nhiều tháng để học tập Căn Bản A Tỳ Đạt Ma của Đại Chúng Bộ ở nước Đà Na Yết Kiệt Ca (Danakataka) thuộc nam Ấn, và khi hồi hương, Huyền Trang mang về Tung Quốc nhiều luận thư Phạn văn, trong đó có luận thư của Đại Chúng Bộ, tiếc là thời ấy chúng chưa được dịch ra Hán văn.

Luận thư căn bản của Đại Chúng Bộ, quyển hai của luận thư Đại Trí Độ(11) do Long Thọ tạo nói: “Ngài Ma Ha Ca Chiên Diên, khi Phật còn tại thế, để nhằm giải rõ những lời Phật dạy Ngài có “Tác Côn Lặc” - làm ra luận - (chữ Côn Lặc người Tần gọi là Khiếp Tạng. Đó là do hệ này dịch và chú thích) đến nay còn lưu hành tại nam Thiên Trúc”. Luận Đại Trí Độ quyển mười tám(12) lại nói: “Nếu người nào đi vào cửa Côn Lặc (luận), thì nghị luận ắt không cùng”. Khi Phật tại thế, trong mười vị đại đệ tử Phật, ngài Ca Chiên Diên là người nghị luận đệ nhất. Còn Lặc (luận) do ngài tạo trở thành luận thư căn bản của Đại Chúng Bộ, và gây ảnh hưởng vô cùng to lớn. Nhân đấy tại Miến Điện có tương truyền rằng ngài Đại Ca Chiên Diên tạo ra bộ Petakopadesa. Nhưng trong tiếng Phạn đọc là Petaka - Khiếp Tạng, dịch âm theo Hán ngữ đọc là Côn Lặc.

Nói thêm về luận thư của Thượng Tọa Bộ. Do giữa các Bộ phái có bất đồng, nên mỗi Bộ phải có sự suy trọng luận thư khác nhau. Đại loại có thể chia thành ba loại.

- Nam truyền có bảy bộ A Tỳ Đạt Ma được Đồng Diệp Bộ truyền tại Tích Lan (Srilanka).

- Tại phương bắc nước Kế Tân cũng có bảy bộ luận thư của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ.

- Độc Tử Bộ cũng có luận thư căn bản, theo Luận Đại Trí Độ quyển hai(13) thì: “khi Phật còn tại thế, do muốn giải rõ lời dạy của Phật nên ngài Xá Lợi Phất tạo ra A Tỳ Đàm. Về sau những người như Độc Tử đạo nhân mới đọc tụng A Tỳ Đàm, và cho mãi đến nay gọi Xá Lợi Phất A Tỳ Đàm là do Độc Tử Bộ phân chia thành bốn bộ, như Chánh Lượng Bộ chẳng hạn cũng lấy Xá Lợi Phất A Tỳ Đàm làm luận thư căn bản. Thâm chí có thể nói, trong hệ Thượng Tọa Bộ, ngoài việc các bộ đều có bảy luận thư, thì Bộ nào cũng có luận thư riêng của Bộ mình, và đều lấy Xá Lợi Phất A Tỳ Đàm làm luận gốc. Bộ Xá Lợi Phất A Tỳ Đàm đã dịch sang Hán văn, nhưng diện mạo nguyên thỉ của nó không còn, điều này chẳng có gì phải nghi.

Ở đây chỉ tham khảo “luận thư chủ yếu của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ và các luận sư nghiên cứu của bốn Bộ” của pháp sư Ấn Thuận (xin đọc phần “tự luận” trang 21) của pháp sư Ấn Thuận đem luận thư căn bản, cũng như mối quan hệ của hai hệ lớn liệt thành biểu đồ sau.

 

lichsuphatgiaoando-06-03

- Nam Phương Bảy Luận và Bắc Phương Bảy Luận.

Ngoài Côn Lặc của Đại Chúng Bộ và Xá Lợi Phất A Tỳ Đàm của hệ Độc Tử Bộ, việc trọng yếu là nghiên cứu của luận thư. Đó là bảy luận của Nam phương và bảy luận của Bắc phương.

I. BẢY LUẬN CỦA NAM PHƯƠNG ĐƯỢC TRUYỀN BỞI ĐỒNG DIỆP BỘ.

1. Pháp Tập Luận (Dhamasangani Đạt Ma Tăng Già).

2. Phân Biệt Luận (Vibhangappakarrana - Tỳ Băng Già).

3. Giới Luận (Dhàtukathà - Đà Suất Ca Tha).

4. Nhân Thi Thiết Luận (Pugglapanõnõatili - Bức Già La Bộn Na).

5. Song Luận (Yamaka - Da Ma Ca).

6. Phát Thú Luận (Patthana - Bát Xoa).

7. Luận Sự (Kathàvatthu - Ca tha Bạt Luận

Sáu Bộ trước được cho là do đức Phật thuyết riêng Bộ thứ bảy - Luận Sự tương truyền vào thời vua A Dục ngài Mục Kiền Liên Tử Đế Tu căn cứ lời Phật dạy, mà tạo thành.

II. BẢY LUẬN ĐƯỢC TRUYỀN BỞI THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ.

1. Pháp Uẩn Túc Luận:

Gồm mười hai quyển, ngài Mục Kiền Liên tạo, ngài Huyền Trang dịch và truyền; Cu Xá Luận Thích của Xứng Hữu, được cho là do ngài Xá Lợi Phất sáng tác. Nó là một bộ luận tối cổ trong số sáu bộ Túc luận, cộng có hai mươi mốt phẩm. Mỗi phẩm được dùng để thích nghĩa một kinh. Luận này cùng tên với Pháp Tập luận của Nam truyền.

2. Tập Dị Môn Túc Luận:

Với hai mươi quyển, ngài Huyền Trang truyền, dùng luận này để giải thích Tập Dị Môn Kinh của kinh Trường A Hàm, và do ngài Xá Lợi Phất kết tập - tức cho rằng Xá Lợi Phất là người tạo luận này; trong khi Xứng Hữu thì nói luận này là do ngài Câu Hi La tạo. Đây là bộ luận mà văn nghĩa rõ ràng, trong sáng, về sau Đại thừa từ luận này mà diễn thành Nội Minh của Văn Sở Thành Địa trong luận Du Già Sư Địa.

3. Thi Thiết Túc Luận:

Gồm bảy quyển, luận do ngài Ca Chiên Diên tạo, Huyền Trang truyền. Luận Đại Trí Độ và ngài Xứng Hữu thì cho rằng luận này do ngài Mục Kiền Liên tạo. Luận Đại Trí Độ được cho là lấy từ kinh Lâu Thán (tức kinh Khởi Thế Nhân Bản, hay còn có tên là kinh Khởi Thế) trong kinh Trường A Hàm. “Trường Bộ” của tạng Ba Lị không có kinh Khởi Thế. Do đó, có người nghi là kinh Khởi Thế ra đời sau thời đại vua A Dục.

4. Luận Thức Thân Túc:

Có mười sáu quyển, do ngài Đề Bà Thiết Ma tạo. Nội dung của luận là khảo sát bối cảnh thời đại sau Phật nhập diệt ba thế kỷ.

5. Luận Phẩm Loại Túc:

Có mười tám quyển, gồm có tám phẩn, bốn phẩm là do Thế Hữu tạo, bốn phẩm còn lại do luận sư của Ca Thấp Di La tạo. Thế Hữu sinh sau Phật Niết bàn năm thế kỷ. Cho thấy luận này ra đời rất muộn.

6. Luận Phát Trí:

Có ba quyển, do Huyền Trang truyền, và nói là của Thế Hữu tạo, nhưng Cu Xá Luận Thích của Xứng Hữu thì nói là Viên Mãn tạo.

7. Luận Phát Trí:

Có hai mươi quyển, ngài Ca Chien Diên Ni Tử tạo luận này tại địa phương Na Bộc Để thuộc bắc Ấn Độ, thời gian sau Phật diệt độ là ba trăm năm.

Có người lấy luận Phát Trí làm trung tâm của các luận. Sáu luận còn lại chỉ “trợ giúp” và gọi tên chung của bảy luận là Lục Túc Phát Trí. Đây là luận điển cơ sở của Nhất Thiết Hữu Bộ. Sáu phần (túc) lấy luận Phát Trí làm sở tông. Thực ra mà nói, về mặt thời đại Lục Túc luận chưa hẳn xuất hiện trước luận Pháp Trí. Nhân vì luận Phát Trí trước kia có quá nhiều thuyết, chưa nói là có thêm sự lựa chọn lấy bỏ; do đó, sự xuất hiện Pháp Trí Luận đã làm cho tư tưởng của Hữu Bộ tiến triển vượt bậc.

Trong số Tỳ Đàm bộ, ngoài bản Hán dịch còn có ba quyển “Tam Di Để Bộ Luận” và ba mươi quyển “Xá Lợi Phất A Tỳ Đàm” của Chánh Lượng Bộ, theo truyền thuyết thì Xá Lợi Phất A Tỳ Đàm là thuộc của Độc Tử Bộ, hoặc của Chánh Lượng Bộ. Nhưng theo nghiên cứu thì Xá Lợi Phất A Tỳ Đàm là bộ luận có ý tối cổ trong số các bộ luận của Thượng Tọa Bộ. Ngay cả luận Pháp Uẩn Túc là bộ luận tối cổ nhưng vẫn lấy ý từ Xá Lợi Phất A Tỳ Đàm, và đại bộ phận tương đồng với Xá Lợi Phất A Tỳ Đàm về vấn phần và phi vấn phần; tuy nguyên bản Xá Lợi Phất A Tỳ Đàm không còn, nhưng từ rất sớm, Thượng Tọa Bộ cũng đồng nhất tôn vinh Xá Lợi Phất A Tỳ Đàm. Do đó, về nguyên tắc hệ Thượng Tọa Bộ thuộc hệ Xá Lợi Phất A Tỳ Đàm (xem Ấn Độ Phật Giáo của pháp sư Ấn Thuận, chương bảy, tiết 2).

- Sự phân kỳ của A Tỳ Đạt Ma.

Mộc thôn Thái Hiền lấy sự phát đạt mà A Tỳ Đàm Đạt Ma đã kinh qua để chia thành bốn thời kỳ:

1. Hình thái thuộc thời kỳ khế kinh:

Đây là thời kỳ mà giữa Kinh và Luận chưa có sự phân định rạch ròi. Thời kỳ này luận thư còn mang tính Thánh điển, và người ta cũng đặt tên kinh cho cả luận điển. Về nội dung mà nói, chẳng hạn như “Chúng Tập Kinh”, được xếp vào Trường Bộ (Trường A Hàm Kinh); hoặc”Ma Ha Phệ Đà La Tư Tha”, “Cu Lạp Việt Đà La Tư Tha” v.v... được xếp vào Trung Bộ (Trung A Hàm Kinh), đấy đều là những luận điển cực kỳ nổi bật.

2. Thời kỳ giải thích Kinh:

Đây là thời kỳ đảm trách công tác định nghĩa, phân loại và phân biệt các kinh đã được thuyết giảng. Trước khi A Tỳ Đạt Ma chưa xuất hiện, thì chức vụ của thời kỳ này là đảm nhiệm từ hình thái quá độ của khế kinh tiến tới giai đoạn luận thư độc lập. Chẳng hạn như trong Thánh điển phương nam được đưa vào “Tiểu Bộ” như: Vô Ngại Đạo Luận, Ni Luật Sa, (Nghĩa thích) v.v... ngaòi bốn kinh A Hàm Tiểu Bộ (Tạp Tạng) cũng có được địa vị đại biểu. Trong sáu Túc Luận. Hán dịch chỉ có Pháp Túc Uẩn Luận và Tập Dị Môn Túc Luận, bởi dường như hai luận vừa nêu cùng là tính chất của thời kỳ này.

3. Thời kỳ Luận thư độc lập:

Đây là thời mà các luận thư tách khỏi kinh và mang tính độc lập, dù vẫn lấy các kinh làm chủ đề, nó phân loại một cách tường tận, chu đáo và hàm chứa một thứ chủ trương đặc hữu của luận thư, đồng thời cũng tùy vào các Bộ phái mà A Tỳ Đạt Ma được sáng tác. Việc đánh dấu niên đại xuất hiện luận thư Phật Giáo là sau Phật nhập diệt khoảng một trăm năm mươi năm (150); giai đoạn này luận điển Phật Giáo chính thức phát huy được ý nghĩa của nó, và đạt đến đỉnh điểm vào khoảng thời gian trước sau kỷ nguyên tây lịch. Như bảy luận của phương Nam, các luận của Hữu Bộ (Lục Túc, Phát Trí, Ba Sa) Xá Lợi Phất A Tỳ Đàm, đa phần các luận vừa nêu đều xuất hiện vào thời kỳ này.

4. Thời kỷ của Luận Cương Yếu:

Đây là thời mà các luận điển chủ yếu đại biểu cho các Bộ đã hoàn thành, và rồi nhắm đến việc giản yếu các luận điển, nhân đó mới xuất hiện sách Cương Yếu. Hữu Bộ thì xuất hiện A Tỳ Đàm Tâm Luận của Pháp Thắng, và được Pháp Cứu (dịch theo âm Hán ngữ là Đạt Ma Đa La, ông sinh sau Phật Niết bàn bảy thế kỷ) tăng bổ A Tỳ Đàm Tâm Luận mà thành lập Tạp A Tỳ Đàm Tâm Luận, ngài Thế Thân thì y vào A Tỳ Đàm Tâm Luận để sáng tác bộ A Tỳ Đàm Đạt Ma Cu Xá Luận, ở phương Nam có ngài Giáo Âm sáng tác bộ Thanh Tịnh Đạo Luận (Luận Sự) và ngài A Nậu Lâu Đà (Aniruddha) thì viết bộ A Tỳ Đạt Ma Pháp Yếu Luận.

- Ba giòng chảy của A Tỳ Đạt Ma.

Theo pháp sư Ấn Thuận viết trong cuốn “Phật Giáo Ấn Độ” ở chương này; tiết hai, thì sau Pháp Uẩn Túc Luận, đến A Tỳ Đạt Ma xảy diễn ra ba dòng chảy lớn:

1. Giòng của Ca Chiên Diên Ni Tử:

Giòng này trước tác bộ Phát Trí Luận để nhằm xiển dương tông nghĩa “tam thế thực hữu”. Phần luận về sự tướng rốt ráo của pháp là cực kỳ tinh tế. Lấy sắc tâm, tâm sở và tâm bất tương ưng rồi giải rõ sự nhiếp thụ, sự tương ưng, sự thành tựu của chúng, làm sống động rất nhiều điều hay lạ. Luận Phát Trí có tám Uẩn (chương) với bốn mươi bốn “nạp tức” (tiết), thứ lớp lộn xộn nhìn vào chẳng có tổ chức gì cả, kế tiếp Phát Trí Luận, Thế Hữu viết bộ Tập Luận (tên đầy đủ là Đại thừa A Tỳ Đạt Ma Tập Luận), tiếp đó Bà Tu Mật viết bộ Phẩm Loại Túc Luận.

2. Giòng của Cù Sa (dịch ý nghĩa là Diệu Âm) Tôn Giả:

Ngài Diệu Âm dựa vào Xá Lợi Phất A Tỳ Đàm để sáng tác bộ Cam Lồ Vị Tỳ Đàm. Đại Đường Tây Vực Ký truyền rằng Cù Sa tôn giả là người cùng thời vua A Dục. Lại có ngài Pháp Thắng ở nước Thổ Hỏa La dựa vào Cam Lồ Vị Tỳ Đàm để viết bộ A Tỳ Đàm Tâm Luận, luận có mười phẩm và rất khéo tổ chức. Các luận sư ở tây Ấn Độ cũng như ở ngoài Ấn Độ rất trọng thị luận Đại Tỳ Bà Sa, bởi họ đều là học giả của luận này. Người xưa lấy A Tỳ Đàm Tâm Luận làm cương yếu cho luận Đại Tỳ Bà Sa. Thực ra thì luận Đại Tỳ Bà Sa thuộc hệ Phát Trí Luận của Hữu Bộ ở đông Ấn Độ, còn A Tỳ Đàm Tâm Luận mới thuộc về hệ Cam Lồ Vị Tỳ Đàm của Hữu Bộ ở tây Ấn Độ. Duy chỉ có luận Đại Tỳ Bà Sa là độc nhất trong luận Phát Trí.

3. Giòng của Cưu Ma La Đà (dịch âm Hán là Đồng Thọ):

Ngài Đồng Thọ, ngài Ca Chiên Diên và ngài Diệu Âm là những vị trước sau kế tiếp nhau, ngài Thí Dụ Sư của Kinh Lượng Bộ ở địa phương Kiền Đà La, viết bộ Dụ Tu Luận có nội dung đứng trên lập trường đối kháng, phê phán luận Phát Trí. Đưa ra chủ trương “vô vi vô thể”, “quá vị vô thể”, “bất tương ưng hành vô thực”, “mộng ảnh tượng hóa vô thực”. Lại có Tôn giả Đại Đức, Tôn giả Giác Hiền là những vị thừa tiếp và phát huy giòng Cưu Ma La Đà.

Ba hệ trên đều thuộc Hữu Bộ phân hóa ra; chỉ có hệ thứ nhất là bám chặt vào tính chính thống của Hữu Bộ, hệ thứ hai, thứ ba thuộc Kinh Lượng Bộ, riêng hệ thứ ba do chịu ảnh hưởng của hệ Đại Chúng và hệ Phân Biệt Thuyết mà xuất hiện.

- Thống nhất tranh luận.

Căn cứ theo truyền thuyết(14), nguyên nhân chính của tranh luận là do sự phân kỳ của tư tưởng Hữu Bộ, việc đó xảy ra sau Phật nhập diệt khoảng bốn trăm năm, vì muốn có sự nhất trí giữa các luận sư của các Bộ phái nên vua Ca Nị Sắc Ca bèn thỉnh ngài Hiếp Tỳ kheo và Tôn giả Thế Hữu đứng làm thượng thủ triệu tập năm trăm vị La Hán qui tụ về tại nước Ca Thấp Di La(15) để tiến hành kiết tập thánh điển lần thứ tư. Thành quả của lần kiết tập này là tập thể tuyển chọn và viết ra bộ luận Đại Tỳ Bà Sa với hai trăm quyển. Bộ luận này tuy thống nhất về mục đích xuất phát, nhưng lại đứng trên lập trường của luận Phát Trí, vì tại Na Bộc Đề (thuộc đông phương của bắc Ấn Độ) đối với kiến giải của ngài Diệu Âm còn có chỗ “lấy, bỏ”. Trong khi đó có kiến giải của Thí Dụ Sư tại Kiền Đà La (thuộc phía tây của bắc Ấn Độ) thì hoàn toàn bài xích. Nhân đấy mà sự xuất hiện của luận Đại Tỳ Bà Sa khiến sự phân hóa giữa hệ phía đông và hệ phía tây của Hữu Bộ càng sâu đậm hơn. Mãi đến bảy trăm năm sau Phật diệt độ, học giả Pháp Cứu (Đạt Ma Đa La) là hậu nhân của hệ Diệu Âm và sau A Tỳ Đàm Tâm Luận, của Pháp Thắng, Pháp Cứu không cho việc phản biện của Thí Dụ Sư là có chủ đích tự nhiên, ông cũng coi việc rườm lời, vụn vặt của luận Đại Tỳ Bà Sa là đương nhiên. Nhưng lấy tinh nghĩa của luận Đại Tỳ Bà Sa tăng bổ vào luận A Tỳ Đàm Tâm của Pháp Thắng để tạo thành bộ Tạp A Tỳ Đàm Tâm Luận. Khai thông tư tưởng của hai hệ tây đông thuộc Hữu Bộ, để giữ cái đúng của Hữu Bộ.

Tư tưởng Đại thừa ở thời kỳ này ngày một khởi sắc; nhờ vậy cho nên ngài Thất Lợi Đa La mới viết bộ “Kinh Bộ Tỳ Bà Sa”, cũng do tư tưởng tiến bộ của Kinh Bộ ngày thêm hưng thịnh làm bộc lộ nhược điểm bảo thủ của học thuyết Hữu Bộ. Đại luận sư Thế Thân dựa vào Tạp A Tỳ Đàm Tâm Luận để viết bộ “A Tỳ Đàm Đạt Ma Cu Xá Luận” gồm ba mươi quyển. Tuy luận vẫn lấy Hữu Bộ làm bản tông, nhưng Thế Thân dùng thái độ của Kinh Bộ để tu chính nhược điểm của Hữu Bộ, và cũng chính Thế Thân lấy quan điểm của Hữu Bộ để khải minh sắc thái của Kinh Bộ. Lại có ngài Chúng Hiền luận sư của Hữu Bộ - người cùng thời với Thế Thân, (Luận này sau được Thế Thân sửa thành A Tỳ Đạt Ma Thuận Chánh Lý Luận), ngài Chúng Hiền - còn trước tác A Tỳ Đạt Ma Hiển Tông, và cùng Thế Thân biện nạn. Ba luận trên được Huyền Trang dịch ra Hán Văn, riêng bộ A Tỳ Đàm Đạt Ma Cu Xá Luận, cựu dịch với hai mươi quyển của ngài Trần Chơn Đế.

Luận A Tỳ Đạt Ma Cu Xá là tác phẩm đại biểu sau cùng trong quá trình đi từ Tiểu thừa đến Đại thừa của Bồ Tát Thế Thân. Về mặt lịch sử Phật Giáo nói chung, đây là bộ luận có địa vị được mọi người kính trọng, bởi luận của ngài Thế Thân, người mà chẳng bao lâu sau đó đã “hồi Tiểu hướng Đại” và trở thành vị luận sư vĩ đại của Đại thừa Duy Thức học.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/06/2016(Xem: 13156)
Tôi tới một miền quê, kề bên một trận địa vào một buổi chiều hoe nắng. Ở đây, cánh đồng loáng nước nằm dài vắng bóng người nông dân cần mẫn. Nhìn vào thôn xóm không một bóng người, khóm tre xơ xác, mái im lìm ! Qua một đêm, ngủ đỗ, sáng hôm sau trở dậy lên đường. Trong ánh nắng sớm mai, đố ai biết có gì đổi khác. Nhìn vào thôn xóm vẫn không một bóng người, vẫn khóm tre xơ xác, mái tranh im lìm. Nhưng giải đồng loáng nước chiều qua đã xanh rì ngọn mạ. Tôi nghĩ tới bóng trăng đêm trước, đến những đoàn người lũ lụt trở về đây, đến những bàn tay mềm mại cấy từng hàng mạ trên giải đồng rộng mênh mông. Trong lúc bom đạn cứ tơi bời trên các đô thành làng mạc, trong lúc chiến tranh cứ tiếp tục gieo rắc tang tóc và đổ nát thì ở đây, nguời dân ViệtNam thản nhiên gieo nguồn sống. Nhành lúa mới như một tuổi xuân vùng trổi dậy, tượng trưng cho sức sống mảnh liệt cho cả một dân tộc. (tác giả Thích Nhất Hạnh)
19/05/2016(Xem: 51099)
Bắt đầu từ ngày 06 tháng 4 năm 2016, cá biển tự nhiên và cá nuôi lồng bè của ngư dân ven biển chết hàng loạt, bắt nguồn từ khu kinh tế Vũng Áng (thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh), lan xuống các tỉnh lân cận (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam-Đà Nẵng…) suốt dọc trên 200 cây số bờ biển. Ngay cả rạn san hô, “nhà ở” của các sinh vật dưới biển, cách bờ biển từ 1-6 hải lý, chạy dài từ đầu tỉnh đến cuối tỉnh Quảng Bình, cũng đã bị phá hủy trong các đợt cá chết vừa qua; san hô chết, nhiều sinh vật biển chết theo (theo báo cáo ngày 06.5.2016 của chính quyền địa phương thôn Nhân Nam, xã Nhân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình).
01/05/2016(Xem: 7313)
Tỳ Kheo Ni Thubten Chodron trở thành vị nữ tu sĩ Phật Giáo kể từ năm 1977. Lớn lên tại Los Angeles, ni trưởng tốt nghiệp với bằng danh dự trong ngành lịch sử từ Đại Học UCLA và tốt nghiệp ngành giáo dục tại Đại Học USC. Sau nhiều năm nghiên cứu và dạy Phật Học tại Châu Á, Châu Âu, và Hoa Kỳ, ni trưởng trở thành người khai sơn và trú trì Tu Viện Sravasti Abbey tại Tiểu Bang Washington
27/12/2015(Xem: 7182)
Thiên Đồng Thiền Tự (天童禅寺) nằm tại làng Thiên Đồng ở dưới chân núi Thái Bạch của Ngân huyện, thành phố Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang và được gọi là "Đông Nam Phật Quốc-東南佛國" hay “Ninh Ba Thiên Đồng Thiền Tự Pháp Vân Tuệ Nhật Thiên Phật Thiên Tăng- 寧波天童禪寺法雲慧日千佛千僧” vì là một trong năm Tòng lâm lớn nhất Trung Quốc. Ngôi Già lam Cổ Tự được kiến tạo vào đầu thế kỷ thứ IV, đời Tây Tấn năm Vĩnh Khang Nguyên (300), ban đầu chỉ là một Thảo am trên diện tích rất nhỏ nhưng theo thời gian đã lên đến 45 nghìn mét vuông, có đến khoảng 20 quần thể kiến trúc cổ như Thiên Vương điện, Đại Hùng Bảo điện, Thiên Phật các, Ngự Thư lâu, Hồi Quang lâu, Phản Minh lâu, Chung lâu, Pháp đường, Lục Thảo đường, Giới đường, La Hán đường . . . Điện đường, Lầu, Gác, Phòng liêu có đến 30 tòa, gồm 999 gian điện thất rất quy mô hùng vĩ. Hiện còn 730 gian, diện tích 7.640.000 mét vuông, diện tích xây dựng 28.800 mét vuông.
27/12/2015(Xem: 6299)
Hôm thứ Sáu, 25/12/2015, tại thành phố Nakhon Pathom, miền Trung Thái Lan đã diễn ra buổi lễ dựng Đài Tưởng niệm Sư tổ Phramongkolthepmuni, người sáng lập ra dòng thiền Dhammakaya (Pháp Thân) và cũng là Bổn sư của Ni trưởng Khun Yay, người sáng lập Trung tâm Dhammakaya (Pháp Thân Tự).
21/12/2015(Xem: 11370)
Mùa hạ năm Ất Mùi – 2015, khi đến dự hội nghị giảng sư của học viện, Thượng tọa tổng thư ký TW Giáo hội Phật Giáo Việt Nam giao cho chúng con nhiệm vụ liên lạc với ban tổ chức Diễn đàn Quốc Tế Sùng Thánh – 2015 để chuẩn bị cho phái đoàn của học viện tham dự diễn đàn. Từ hội nghị Hội đồng trị sự TW ở Sài Gòn, Thượng tọa tổng thư ký gọi điện về báo chốt danh sách thành viên phái đoàn để chính thức báo cho ban tổ chức diễn đàn làm thiệp thỉnh. Sau khi dự hội nghị Hội đồng trị sự trung ương trở về, Hòa thượng viện trưởng lại giao cho chúng con thêm một công việc lớn là xây dựng chương trình, liên lạc, bố trí sắp đặt để sau khi tham dự diễn đàn kết thúc, phái đoàn sẽ thực hiện chương trình tìm về tổ đình nơi Sơ tổ Thiền phái Tào Động Việt Nam đã cầu đạo và đắc pháp.
27/04/2015(Xem: 13317)
Tờ Thời Luận San Francisco (San Francisco Chronicle) một nhật báo lớn của Mỹ, ngày 17 tháng 9 năm 2008 có đăng một bài mang tựa: "Đạo Ki-tô đang phát triển nhanh chóng ở Mông Cổ, các nhà truyền giáo đã cải đạo cho hàng nghìn người trong khi những người Phật Giáo đang nơm nớp lo sợ là truyền thống văn hóa của mình sẽ bị mất đi" (Christianity growing fast in Mongolia, Missionaries convert thousands while Buddhists fear losing traditional culture), tác giả là Michael Khon một ký giả trong nhóm bình luận gia thời sự quốc tế trong ban biên tập của tờ báo này. Bài báo khá xưa, cách nay đã hơn sáu năm, thế nhưng cũng không hẳn là lỗi thời, bởi vì tình trạng trên đây chẳng những vẫn còn đang tiếp diễn ở Mông Cổ mà cả nhiều nơi khác trên thế giới. Bài báo cũng đã được một trang mạng Phật Giáo có tầm cỡ quốc tế với 9 thứ tiếng khác nhau là Buddachannel dịch sang tiếng Pháp và đăng tải ngày 6 tháng 2 năm 2009, với tựa ngắn hơn: "Phật Giáo Mông Cổ đang bị mất đà" (Le Bouddhisme Mongol en perte de
06/04/2015(Xem: 9285)
Khi Mâu Tử, một tri thức Tàu, tị nạn tại Giao Châu và viết trong Lý Hoặc Luận vào cuối thế kỷ thứ 2 sau tây lịch rằng, “Đất Hán chưa chắc là trung tâm của trời đất,”[1] cho thấy tại Giao Châu lúc bấy giờ, đã là một lãnh địa hùng cứ ở phương Nam không thua kém gì nước Tàu tại phương Bắc. Sử gia Lê Mạnh Thát nhận định về điều này như sau trong bộ Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam:
24/03/2015(Xem: 6010)
Tôi vẫn say mê với Phật Giáo Thái Lan từ những hình tượng lạ, bí ẩn trên các trang sách thiếu nhi – đúng ra, một phần là các hình khắc trên tường ở hai vách Chùa Xá Lợi (Sài Gòn). Đây là một ngôi chùa có ngọn tháp kiểu các chùa Bắc Tông Miền Trung, nơi tầng thứ nhì của tháp là thư viện, nơi đầy những kinh sách rất mực bí ẩn đối với bọn thiếu nhi chúng tôi lúc đó. Nhưng các vách tường chính điện là điêu khắc kiểu Phật Giáo Nam Tông, những hình tượng cổ cũng rất mực bí ẩn theo hướng chuyện cổ Jataka Tales.
22/03/2015(Xem: 9903)
Mirza Hussain mới 26 tuổi khi những kẻ chỉ huy khủng bố Taliban ấn vào tay ông khối thuốc nổ và bảo đem nó đặt vào các pho tượng Phật lớn nhất thế giới tại quê hương ông, tỉnh Bamiyan của Afghanistan. Các tượng cổ xưa được khắc sâu vào núi, từng là những pho tượng Phật cao nhất thế giới, đã bị phá hủy trong loạt hành động điên rồ của phiến quân Hồi giáo cực đoan năm 2001. Hành động đó đã tạo tiền lệ nguy hiểm cho những kẻ thuộc Nhà nước Hồi giáo tự xưng tiến hành những cuộc đập phá các di sản kiến trúc và tôn giáo thời gian gần đây.