Nghiệp

19/01/201105:47(Xem: 14015)
Nghiệp

TRÍHUỆVÀ ĐẠI BI

TenzinGyatso Dalai Lama thứ 14
Nguyêntác:Kindness, Clarity and Insight, Snow Lion Publications Ithaca NewYork USA 1990
BảndịchViệt: Thiện Tri Thức 2000 PL. 2543

NGHIỆP*

Sướngvàkhổ lưu xuất từ những hành động quá khứ của chúngta. Để định nghĩa nghiệp (karma) trong vài chữ, người tacó thể nói : hãy làm tốt, tất cả sẽ tốt ; nếu làm xấu,tất cả sẽ xấu.

Karma,nghiệp có nghĩa là “hành động”. Nó hoạt động theo bamặt : thân, lời và ý. Nó sản sinh ra ba loại hậu quả :xấu, không xấu và trung tính, và diễn ra trong hai thời : trướctiên người ta nghĩ đến điều sắp làm, đó là hành độngý định, rồi những động lực tâm thức hiện thực thànhmột hành vi thân xác hay lời nói, đó là hành động cố ý.

Vídụ, trong lúc này ; khi phát biểu với một ý định nào đó,tôi hoàn thành một hành động thuộc về lời nói, vậy thìtôi cất chứa nghiệp. Với những cử chỉ của hai tay tôi,tôi làm sanh ra nghiệp về thân xác. Tính chất tích cực haytiêu cực của những hoạt động này tùy thuộc động lựckích động tôi. Nếu động lực là trong sạch, nghĩa là nếutôi nói với các bạn với sự thành thật, tôn trọng, trongmột tinh thần vị tha, thì những hành vi của tôi sẽ tốt.Nếu tôi bị thúc đẩy bởi kiêu căng, thù hận, nói ác…những hành động thân và lời của tôi sẽ trở nên khôngtốt.

Nhữnghành vi thường xuyên được sản sinh ra như vậy. Khi lờinói là sự biểu lộ của những động lực tốt đẹp, mộtkhông khí thân ái được thiết lập, nhưng vượt qua khỏikết quả tức thời này, hành động để lại một dấu vếttrong tâm thức diễn giả, dẫn khởi những hậu quả vui sướngtrongtương lai. Nếu những lời nói của diễn giả che dấu mộthậu ý gây tác hại, một không khí thù ngịch được thiếtlập tức thì, với những hậu quả buồn thảm mai sau.

Khiđức Phật dạy rằng người ta là chủ nhân của chính mình,rằng tất cả tùy thuộc vào mình, có nghĩa là sung sướngvà khổ sở đến từ những hành vi tốt và không tốt, rằngchúng hun đúc thành không phải từ bên ngoài mà ở nơi sâuxa nhất của chính mình. Cái nhìn này cho một cảnh trạngthực tiễn trong việc hàng ngày : khi tương quan giữa nhânvà quả được thiết lập, người ta không cần nữa mộtông cảnh sát nào để bắt buộc chúng ta phải cẩn trọng,lương tri sẽ thay thế chỗ ấy. Ví dụ, hãy giả thiết ởđây có một mớ tiền hay một viên ngọc quý và không cóai cả ở chung quanh, các bạn có thể dễ dàng chiếm lấynó. Nhưng nếu các bạn biết rằng toàn bộ trách nhiệm vềtương lai của các bạn đang nằm trong tay của các bạn, cácbạn sẽ không làm thế.

Trongxã hội hiện đại, mặc dù những hệ thống cảnh sát rấtphức tạp và kỹ thuật chúng ta rất cao, những hành vi khủngbố xảy ra cũng không kém. Một mặt, những người này dùngnhững phương tiện an ninh tối tân nhất để làm thất bạinhững kẻ mà ở mặt kia lại trở nên còn sáng tạo hơn trongviệc thực hiện những trọng tội của họ. Người gìn giữhòa bình thực sự duy nhất là nơi chính mình. Chính đó là“người canh đêm” ý thức về trách nhiệm của mình trongcái liên hệ đến tương lai của nó và nó quên chính mìnhcho hạnh phúc của tất cả.

Vềphương diện thực hành, sự kiểm soát tốt nhất tội phạmlà sự kiểm soát mà mỗi người thi hành trên chính mình.Sự thay đổi bên trong là cái có thể chấm dứt cho sự phạmtội và thiết lập hòa bình xã hội, nhưng nó đòi hỏi tựhiểu biết chính mình. Lý thuyết Phật giáo về sự tự tráchnhiệm là đặc biệt thích đáng ; nó dẫn đến tự hỏi vàtự chế phục đồng thời trong lợi ích của riêng mình vàtrong lợi ích của người khác.

Vềnhững hệ quả khác nhau của hành động, chúng cũng cần đượcnghiên cứu sâu. Một trong số đó được gọi là “quả củasự kết trái”. Giả thử, sau một hành vi xấu, một ngườinào đó chuyển đến trong một hóa thân xấu, dưới hình thứcthú vật chẳng hạn ; sự tái sanh này là một kết quả củasự kết trái mà nguyên nhân ngược về một đời nào trướcđó. Cũng có cái mà người ta gọi là “kinh nghiệm về quảtương tự với nhân”. Đây là một trường hợp : hãy tưởngtượng rằng, sau khi di chuyển vào một tái sanh không may mắnsau một tội lỗi, các bạn tái sanh làm người, cuộc đờicủa các bạn sẽ ngắn ngủi : quả (một cuộc đời ngắnngủi) với tư cách là cái được kinh nghiệm, tương tự vớinhân (sự kiện đã rút ngắn cuộc đời người khác). Cũngcó một hiện tượng gọi là “quả của sự hồi sinh bịđiều kiện hóa” để có thể làm sáng tỏ sự kiện tựnhiên có khuynh hướng làm lại cùng loại hành động xấunhư giết chẳng hạn.

Nhưngví dụ này cũng áp dụng – trong những hậu quả ngược lại– cho kết quả của những hành vi tốt. Còn phải kể nhữnghành động làm tập thể, mà những hệ quả của chúng đượcmọi thành viên kinh nghiệm. Trong trường hợp này, một toànbộ những cá nhân có thể cùng được chuyển sanh để chiaxẻ với nhau cùng một môi trường, cảnh giới nào đó.

Nhưng,tựu trung, mọi chỉ dẫn này về nhân quả của hành vi chỉcó ích lợi trong mức độ chúng góp phần vào việc cải thiệnđời sống xã hội. Dầu chúng ta là tín đồ hay không, tôihy vọng rằng chúng ta sẽ cố gắng nghiên cứu những vănhóa riêng khác của chúng ta để đem làm của chung cái gìtrong mỗi nền văn hóa có thể lợi lạc cho tất cả.




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/06/2016(Xem: 13089)
Tôi tới một miền quê, kề bên một trận địa vào một buổi chiều hoe nắng. Ở đây, cánh đồng loáng nước nằm dài vắng bóng người nông dân cần mẫn. Nhìn vào thôn xóm không một bóng người, khóm tre xơ xác, mái im lìm ! Qua một đêm, ngủ đỗ, sáng hôm sau trở dậy lên đường. Trong ánh nắng sớm mai, đố ai biết có gì đổi khác. Nhìn vào thôn xóm vẫn không một bóng người, vẫn khóm tre xơ xác, mái tranh im lìm. Nhưng giải đồng loáng nước chiều qua đã xanh rì ngọn mạ. Tôi nghĩ tới bóng trăng đêm trước, đến những đoàn người lũ lụt trở về đây, đến những bàn tay mềm mại cấy từng hàng mạ trên giải đồng rộng mênh mông. Trong lúc bom đạn cứ tơi bời trên các đô thành làng mạc, trong lúc chiến tranh cứ tiếp tục gieo rắc tang tóc và đổ nát thì ở đây, nguời dân ViệtNam thản nhiên gieo nguồn sống. Nhành lúa mới như một tuổi xuân vùng trổi dậy, tượng trưng cho sức sống mảnh liệt cho cả một dân tộc. (tác giả Thích Nhất Hạnh)
19/05/2016(Xem: 50600)
Bắt đầu từ ngày 06 tháng 4 năm 2016, cá biển tự nhiên và cá nuôi lồng bè của ngư dân ven biển chết hàng loạt, bắt nguồn từ khu kinh tế Vũng Áng (thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh), lan xuống các tỉnh lân cận (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam-Đà Nẵng…) suốt dọc trên 200 cây số bờ biển. Ngay cả rạn san hô, “nhà ở” của các sinh vật dưới biển, cách bờ biển từ 1-6 hải lý, chạy dài từ đầu tỉnh đến cuối tỉnh Quảng Bình, cũng đã bị phá hủy trong các đợt cá chết vừa qua; san hô chết, nhiều sinh vật biển chết theo (theo báo cáo ngày 06.5.2016 của chính quyền địa phương thôn Nhân Nam, xã Nhân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình).
01/05/2016(Xem: 7307)
Tỳ Kheo Ni Thubten Chodron trở thành vị nữ tu sĩ Phật Giáo kể từ năm 1977. Lớn lên tại Los Angeles, ni trưởng tốt nghiệp với bằng danh dự trong ngành lịch sử từ Đại Học UCLA và tốt nghiệp ngành giáo dục tại Đại Học USC. Sau nhiều năm nghiên cứu và dạy Phật Học tại Châu Á, Châu Âu, và Hoa Kỳ, ni trưởng trở thành người khai sơn và trú trì Tu Viện Sravasti Abbey tại Tiểu Bang Washington
27/12/2015(Xem: 7177)
Thiên Đồng Thiền Tự (天童禅寺) nằm tại làng Thiên Đồng ở dưới chân núi Thái Bạch của Ngân huyện, thành phố Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang và được gọi là "Đông Nam Phật Quốc-東南佛國" hay “Ninh Ba Thiên Đồng Thiền Tự Pháp Vân Tuệ Nhật Thiên Phật Thiên Tăng- 寧波天童禪寺法雲慧日千佛千僧” vì là một trong năm Tòng lâm lớn nhất Trung Quốc. Ngôi Già lam Cổ Tự được kiến tạo vào đầu thế kỷ thứ IV, đời Tây Tấn năm Vĩnh Khang Nguyên (300), ban đầu chỉ là một Thảo am trên diện tích rất nhỏ nhưng theo thời gian đã lên đến 45 nghìn mét vuông, có đến khoảng 20 quần thể kiến trúc cổ như Thiên Vương điện, Đại Hùng Bảo điện, Thiên Phật các, Ngự Thư lâu, Hồi Quang lâu, Phản Minh lâu, Chung lâu, Pháp đường, Lục Thảo đường, Giới đường, La Hán đường . . . Điện đường, Lầu, Gác, Phòng liêu có đến 30 tòa, gồm 999 gian điện thất rất quy mô hùng vĩ. Hiện còn 730 gian, diện tích 7.640.000 mét vuông, diện tích xây dựng 28.800 mét vuông.
27/12/2015(Xem: 6253)
Hôm thứ Sáu, 25/12/2015, tại thành phố Nakhon Pathom, miền Trung Thái Lan đã diễn ra buổi lễ dựng Đài Tưởng niệm Sư tổ Phramongkolthepmuni, người sáng lập ra dòng thiền Dhammakaya (Pháp Thân) và cũng là Bổn sư của Ni trưởng Khun Yay, người sáng lập Trung tâm Dhammakaya (Pháp Thân Tự).
21/12/2015(Xem: 11321)
Mùa hạ năm Ất Mùi – 2015, khi đến dự hội nghị giảng sư của học viện, Thượng tọa tổng thư ký TW Giáo hội Phật Giáo Việt Nam giao cho chúng con nhiệm vụ liên lạc với ban tổ chức Diễn đàn Quốc Tế Sùng Thánh – 2015 để chuẩn bị cho phái đoàn của học viện tham dự diễn đàn. Từ hội nghị Hội đồng trị sự TW ở Sài Gòn, Thượng tọa tổng thư ký gọi điện về báo chốt danh sách thành viên phái đoàn để chính thức báo cho ban tổ chức diễn đàn làm thiệp thỉnh. Sau khi dự hội nghị Hội đồng trị sự trung ương trở về, Hòa thượng viện trưởng lại giao cho chúng con thêm một công việc lớn là xây dựng chương trình, liên lạc, bố trí sắp đặt để sau khi tham dự diễn đàn kết thúc, phái đoàn sẽ thực hiện chương trình tìm về tổ đình nơi Sơ tổ Thiền phái Tào Động Việt Nam đã cầu đạo và đắc pháp.
27/04/2015(Xem: 13292)
Tờ Thời Luận San Francisco (San Francisco Chronicle) một nhật báo lớn của Mỹ, ngày 17 tháng 9 năm 2008 có đăng một bài mang tựa: "Đạo Ki-tô đang phát triển nhanh chóng ở Mông Cổ, các nhà truyền giáo đã cải đạo cho hàng nghìn người trong khi những người Phật Giáo đang nơm nớp lo sợ là truyền thống văn hóa của mình sẽ bị mất đi" (Christianity growing fast in Mongolia, Missionaries convert thousands while Buddhists fear losing traditional culture), tác giả là Michael Khon một ký giả trong nhóm bình luận gia thời sự quốc tế trong ban biên tập của tờ báo này. Bài báo khá xưa, cách nay đã hơn sáu năm, thế nhưng cũng không hẳn là lỗi thời, bởi vì tình trạng trên đây chẳng những vẫn còn đang tiếp diễn ở Mông Cổ mà cả nhiều nơi khác trên thế giới. Bài báo cũng đã được một trang mạng Phật Giáo có tầm cỡ quốc tế với 9 thứ tiếng khác nhau là Buddachannel dịch sang tiếng Pháp và đăng tải ngày 6 tháng 2 năm 2009, với tựa ngắn hơn: "Phật Giáo Mông Cổ đang bị mất đà" (Le Bouddhisme Mongol en perte de
06/04/2015(Xem: 9275)
Khi Mâu Tử, một tri thức Tàu, tị nạn tại Giao Châu và viết trong Lý Hoặc Luận vào cuối thế kỷ thứ 2 sau tây lịch rằng, “Đất Hán chưa chắc là trung tâm của trời đất,”[1] cho thấy tại Giao Châu lúc bấy giờ, đã là một lãnh địa hùng cứ ở phương Nam không thua kém gì nước Tàu tại phương Bắc. Sử gia Lê Mạnh Thát nhận định về điều này như sau trong bộ Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam:
24/03/2015(Xem: 6000)
Tôi vẫn say mê với Phật Giáo Thái Lan từ những hình tượng lạ, bí ẩn trên các trang sách thiếu nhi – đúng ra, một phần là các hình khắc trên tường ở hai vách Chùa Xá Lợi (Sài Gòn). Đây là một ngôi chùa có ngọn tháp kiểu các chùa Bắc Tông Miền Trung, nơi tầng thứ nhì của tháp là thư viện, nơi đầy những kinh sách rất mực bí ẩn đối với bọn thiếu nhi chúng tôi lúc đó. Nhưng các vách tường chính điện là điêu khắc kiểu Phật Giáo Nam Tông, những hình tượng cổ cũng rất mực bí ẩn theo hướng chuyện cổ Jataka Tales.
22/03/2015(Xem: 9845)
Mirza Hussain mới 26 tuổi khi những kẻ chỉ huy khủng bố Taliban ấn vào tay ông khối thuốc nổ và bảo đem nó đặt vào các pho tượng Phật lớn nhất thế giới tại quê hương ông, tỉnh Bamiyan của Afghanistan. Các tượng cổ xưa được khắc sâu vào núi, từng là những pho tượng Phật cao nhất thế giới, đã bị phá hủy trong loạt hành động điên rồ của phiến quân Hồi giáo cực đoan năm 2001. Hành động đó đã tạo tiền lệ nguy hiểm cho những kẻ thuộc Nhà nước Hồi giáo tự xưng tiến hành những cuộc đập phá các di sản kiến trúc và tôn giáo thời gian gần đây.