Tán Dương Công Hạnh (tưởng niệm Giác Linh Trưởng Lão Tân Viên Tịch thượng Phước hạ An)

12/02/202606:49(Xem: 1184)
Tán Dương Công Hạnh (tưởng niệm Giác Linh Trưởng Lão Tân Viên Tịch thượng Phước hạ An)
HT Thich Phuoc An-3Tán Dương Công Hạnh

-Thành kính hướng về Giác Linh Đường đảnh lễ tưởng niệm Giác Linh Trưởng Lão Tân Viên Tịch thượng Phước hạ An
Kính nguyện Giáo Linh Hoà Thượng Cao Đăng Phật Quốc.
-Thành kính phân ưu cùng môn đồ pháp quyến.


Một đời lặng lẽ giữ đèn kinh,
Bóng chữ Kim Cang sáng tự minh.
Chẳng cầu danh tướng nơi trần thế,
Chỉ nguyện khai tâm giữa hữu tình.

Mực cũ thấm sâu từng nghĩa pháp,
Lời xưa mở lối những căn lành.
Bao lớp hậu sinh nhờ khai giáo
Biết nhìn sắc tướng vốn mong manh.

Giường bệnh cuối đời còn tiếng tụng,
Âm ba Bát Nhã vẫn ngân xa.
Thân huyễn trả về cho tứ đại,
Nguyện tâm còn ở khắp Ta-bà.

Đến đi như gió qua non vắng,
Hiện mất như trăng lặn biển chiều.
Công hạnh âm thầm luôn ban tặng
Đèn soi hậu thế vững đường tu.

Một nén tâm hương dâng trước án,
Nghiêng mình tưởng niệm với sầu thương.
Kính nguyện tiếp nối Thầy gieo hạt
Cho đạo lưu truyền khắp mười phương.

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật .

Sydney 11/2/2026
Hậu bối Huệ Hương khể thủ





HT Thich Phuoc An-1



Kính tiễn Thầy về bên kia bờ Giác



Con đã gom từng lời Kim Cang nổi tiếng
Trong tiếng giảng ngân dài của bậc Đại bi
Muốn gửi về quê nhà
Như một nén tâm hương dâng Thầy cuối buổi.

Nào hay…
Khi con còn phiên tả
Thầy đã lặng lẽ qua sông.

Kinh vẫn đó
Nhưng người nghe đã hóa mây trời.
Tiếng đọc cuối đời bên giường bệnh
Hẳn cũng là tiếng gươm trí tuệ
Chặt đứt mọi luyến lưu.

Con tiếc không phải
vì thầy chưa mỉm cười mãn nguyện
Mà vì con chưa kịp quỳ xuống
Thưa rằng:
Những hạt giống thầy gieo
Đã nảy mầm trong tim con.

Xin nguyện
Lấy Kim Cang làm đuốc sáng
Lấy tâm không trụ làm đường đi
Để mỗi bước con còn học hỏi
Đều là một lạy tiễn thầy
Về bên kia bờ giác.


Sydney 11/2/2026
Hậu bối Huệ Hương khể thủ

xem tiep



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/08/2011(Xem: 7452)
Gần đến kỷ niệm 700 năm ngày mất của vua Trần Nhân Tông, chúng ta vẫn phải đặt những câu hỏi về tuổi tác, về trách nhiệm, về kế lâu dài, về sự tự do và tự trọng của các cá nhân trong xã hội…
09/08/2011(Xem: 7625)
Nghiệm sinh nửa thế kỷ trên cõi đời, Trần Nhân Tông (1258-1308) đã có những đóng góp xuất sắc vào lịch sử chống ngoại xâm, xây dựng đất nước, phát triển tư tưởng Phật giáo dân tộc và là một trong những tác giả đi đầu trong việc sáng tác thơ phú bằng chữ Hán và chữ Nôm.
09/08/2011(Xem: 7728)
Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sau khi khoác tăng bào ở tuổi 40 đã chu du khắp nơi để thuyết pháp, giảng kinh, khuyên dân chúng giữ gìn mười điều lành, và từng trở về kinh đô Thăng Long tổ chức lễ thụ Bồ tát giới cho vua Trần Anh Tông và quan lại triều đình.
09/08/2011(Xem: 8765)
'Vậy là đã 700 năm, 7 thế kỷ trôi qua từ khi Đức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông viên tịch, thể nhập vào niết bàn an nhiên tự tại. Cả dân tộc Việt Nam đều được biết đến Ngài là một bậc quân vương anh minh của đất nước Đại Việt, mà cũng là một vị Sơ Tổ của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Nói đúng hơn, Ngài là một vị “Vua Phật” của Việt Nam.
08/08/2011(Xem: 7595)
Lễ húy nhật cố Hòa thượng Thích Phước Huệ (1875 - 1963) - chùa Hải Đức
08/08/2011(Xem: 8596)
"Vì sao Thượng hoàng Trần Nhân Tông không ở lại Vũ lâm hay lựa chọn một nơi nào khác trên đất nước Đại Việt mà lại chọn Yên Tử để tu hành?" - Câu hỏi được phần nào lý giải trong tham luận của Nguyễn Trần Trương (Phó Ban Dân tộc tỉnh Quảng Ninh) trong Hội thảo tưởng niệm 700 năm ngày Đức vua
07/08/2011(Xem: 17165)
Nói đến tinh thần "Hòa quang đồng trần" tức là nói đến tinh thần nhập thế của đạo Phật, lấy ánh sáng của đức Phật để thắp sáng trần gian, “sống trong lòng thế tục, hòa ánh sáng của mình trong cuộc đời bụi bặm”, và biết cách biến sứ mệnh đạo Phật thành lý tưởng phụng sự cho đời, giải thoát khổ đau cho cá nhân và xã hội. Thời đại nhà Trần và đặc biệt vua Trần Nhân Tông (1258-1308) đã làm được điều này thành công rực rỡ, mở ra trang sử huy hoàng cho dân tộc.
04/08/2011(Xem: 8734)
Hòa thượng Thích Bích Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Hoằng đạo, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam; nguyên Chánh Đại Diện GHPGCT Trung phần, Tổ thứ 3 Tổ đình Nghĩa Phương, Tổ Khai sơn các chùa thuộc Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương, Tông trưởng Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương (1921 - 1972).
30/07/2011(Xem: 9971)
Thế danh: Nguyễn Đình Mân, Pháp danh: Thị Uẩn, Pháp tự: Hạnh Đạo, Pháp hiệu: Thuần Phong, Đời thứ 42 thuộc dòng Thiền Lâm Tế.
28/07/2011(Xem: 8374)
Hòa Thượng Thích Đạt Hảo, Hòa thượng Thích Đạt Hảo thế danh Lê Văn Bân, pháp danh Tánh Tướng, pháp hiệu Đạt Hảo, sanh năm Đinh Tỵ (1917), tại ấp Bình Hữu, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Gia Định (1). Sư là con út trong gia đình có 6 anh chị em, 2 người trai bốn người gái; đặc biệt cả nhà có 8 người đều lần lượt xuất gia tu hành: -Phụ thân Lê Văn Bộn (1876- 1943), pháp danh Tánh Từ, pháp hiệu Đạt Bi. -Mẫu thân Ngô Thị Cờ (1884-1941), pháp danh Tánh Niệm, pháp hiệu Đạt Phật. -Chị thứ 2 Lê Thị Tình (1901-1970), pháp danh Tánh Hóa, pháp hiệu Đạt Đạo. -Chị thứ 3 Lê Thị Ưa (1904- ?) pháp danh Tánh Viên, pháp hiệu Đạt Thông. -Chị thứ 4: Lê Thị Luận (1907- ?), pháp danh Tánh Minh, pháp hiệu Đạt Quang. Chị thứ 5 Lê Thị Nghị (1909- ?), pháp danh Tánh Hồng, pháp hiệu Đạt Tâm -Anh thứ 6 Lê Văn Kỉnh (1915-1962), pháp danh Tánh Kỉnh, Pháp hiệu Đạt Xương. -Em út là Hòa thượng Thích Đạt Hảo.