Tán Dương Công Hạnh (tưởng niệm Giác Linh Trưởng Lão Tân Viên Tịch thượng Phước hạ An)

12/02/202606:49(Xem: 1748)
Tán Dương Công Hạnh (tưởng niệm Giác Linh Trưởng Lão Tân Viên Tịch thượng Phước hạ An)
HT Thich Phuoc An-3Tán Dương Công Hạnh

-Thành kính hướng về Giác Linh Đường đảnh lễ tưởng niệm Giác Linh Trưởng Lão Tân Viên Tịch thượng Phước hạ An
Kính nguyện Giáo Linh Hoà Thượng Cao Đăng Phật Quốc.
-Thành kính phân ưu cùng môn đồ pháp quyến.


Một đời lặng lẽ giữ đèn kinh,
Bóng chữ Kim Cang sáng tự minh.
Chẳng cầu danh tướng nơi trần thế,
Chỉ nguyện khai tâm giữa hữu tình.

Mực cũ thấm sâu từng nghĩa pháp,
Lời xưa mở lối những căn lành.
Bao lớp hậu sinh nhờ khai giáo
Biết nhìn sắc tướng vốn mong manh.

Giường bệnh cuối đời còn tiếng tụng,
Âm ba Bát Nhã vẫn ngân xa.
Thân huyễn trả về cho tứ đại,
Nguyện tâm còn ở khắp Ta-bà.

Đến đi như gió qua non vắng,
Hiện mất như trăng lặn biển chiều.
Công hạnh âm thầm luôn ban tặng
Đèn soi hậu thế vững đường tu.

Một nén tâm hương dâng trước án,
Nghiêng mình tưởng niệm với sầu thương.
Kính nguyện tiếp nối Thầy gieo hạt
Cho đạo lưu truyền khắp mười phương.

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật .

Sydney 11/2/2026
Hậu bối Huệ Hương khể thủ





HT Thich Phuoc An-1



Kính tiễn Thầy về bên kia bờ Giác



Con đã gom từng lời Kim Cang nổi tiếng
Trong tiếng giảng ngân dài của bậc Đại bi
Muốn gửi về quê nhà
Như một nén tâm hương dâng Thầy cuối buổi.

Nào hay…
Khi con còn phiên tả
Thầy đã lặng lẽ qua sông.

Kinh vẫn đó
Nhưng người nghe đã hóa mây trời.
Tiếng đọc cuối đời bên giường bệnh
Hẳn cũng là tiếng gươm trí tuệ
Chặt đứt mọi luyến lưu.

Con tiếc không phải
vì thầy chưa mỉm cười mãn nguyện
Mà vì con chưa kịp quỳ xuống
Thưa rằng:
Những hạt giống thầy gieo
Đã nảy mầm trong tim con.

Xin nguyện
Lấy Kim Cang làm đuốc sáng
Lấy tâm không trụ làm đường đi
Để mỗi bước con còn học hỏi
Đều là một lạy tiễn thầy
Về bên kia bờ giác.


Sydney 11/2/2026
Hậu bối Huệ Hương khể thủ

xem tiep



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 8444)
Lý Càn Đức (Bính Ngọ 1066 - Mậu Thân 1128) là vua thứ 4 nhà Lý, con trai duy nhất của vua Lý Thánh Tông và Ỷ Lan phu nhân tức Linh Nhân hoàng hậu. Càn Đức sinh ra ở Cung Động Tiên, gác Du Thiềm (gác thưởng Trăng) vào tháng Giêng năm Bính Ngọ, niên hiệu Chương Thánh năm thứ 8 (23-2-1066), hồi vua Thánh Tông đã ngoài 40 tuổi. Một ngày sau ngày sinh thì được lập làm Thái tử, 6 tuổi vua cha mất, được tôn làm vua, tức vua Lý Nhân Tông. Vua có tướng hảo, tâm hiền, bản chất thông minh dũng lược.
09/04/2013(Xem: 9334)
Mỗi khi tâm niệm đến hành trạng Thiền sư Vạn Hạnh, chúng ta không thể không đề cập đến con người và sự nghiệp Lý Công Uẩn. Giá trị lịch sử của một con người không chỉ ảnh hưởng đến tự thân mà dư âm giá trị lịch sử của con người đó còn ảnh hưởng trực tiếp đến muôn người khác từ thế hệ này qua thế hệ khác. Và quả thật, Vạn Hạnh Thiền sư là người có công rất lớn trong việc khai sáng ra triều đại nhà Lý thì Lý Công Uẩn là vị vua đầu tiên thực thi tinh thần Vạn Hạnh bằng tất cả sự thể nhập "Đạo Pháp - Dân tộc" trong một thực thể duy nhất.
09/04/2013(Xem: 17268)
Có lần trong tù, đói quá, Thầy Quảng Độ nằm mơ thấy được nhà bếp cho một cái bánh bao. Ăn xong thấy bụng căng thẳng, no nê, rất hạnh phúc. Sự thật là đêm ấy, trước khi đi ngủ, vì đói quá nên thấy uống nước cho đầy bụng dễ ngủ. Và Thầy đã đái dầm ra quần. Sáng hôm đó Thầy có làm một bài thơ.
09/04/2013(Xem: 9291)
Đức Đại Lão Hòa Thượng Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN là thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán, Pháp danh Trừng Nguyên, Hiệu Đôn Hậu. Xuất gia và thọ cụ túc với Hòa Thượng Bổn sư là Tổ Tâm Tịnh, khai sơn chùa Tây Thiên Huế, sau các Pháp huynh là quý Hòa Thượng Giác Nguyên, Giác Viên, Giác Tiên, Giác Nhiên...
09/04/2013(Xem: 11738)
Từ ngày 18-23/5/1996 HT.Thích Minh Châu, Phó CT kiêm Tổng thư ký GHPGVN, Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, Hiệu trưởng trường CCPHVN... đã lên đường đến Thái Lan để nhận bằng Tiến Sĩ Phật Học Danh Dự (Honarary Doctorate Degree in Buddhist studies) tại Đại Học Phật Giáo Mahachulalongkornrajvidyalaya, Thủ đô Bangkok, Thái lan.
09/04/2013(Xem: 13375)
Thiền sư THÍCH ĐỨC NHUẬN, pháp hiệu Trí Tạng, thế danh Đồng Văn Kha, sinh ngày 14 tháng Chạp năm Quí hợi (thứ bảy, ngày 19 tháng giêng, 1924). Chính quán : làng Lạc Chính, xã Duyên Bình, huyện Trực Ninh, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Thân phụ là Đồng Văn Trung và thân mẫu là bà chính thất Hà Thị Thìn hiệu Trinh Thục (cả hai vị đều đã mãn phần). Là con thứ tư trong một gia đình thanh bần - dòng quí tộc. Ngài có 2 anh, 1 chị và 3 người em dì bào (2 trai, 1 gái).
09/04/2013(Xem: 7725)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, thế danh là Lâm Văn Tuất sinh năm 1897 (Đinh Dậu) tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Thân sinh là cụ Lâm Hũu Ứng và bà Nguyễn Thị Nương.
09/04/2013(Xem: 10508)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9928)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 11241)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.