Tán Dương Công Hạnh (tưởng niệm Giác Linh Trưởng Lão Tân Viên Tịch thượng Phước hạ An)

12/02/202606:49(Xem: 1073)
Tán Dương Công Hạnh (tưởng niệm Giác Linh Trưởng Lão Tân Viên Tịch thượng Phước hạ An)
HT Thich Phuoc An-3Tán Dương Công Hạnh

-Thành kính hướng về Giác Linh Đường đảnh lễ tưởng niệm Giác Linh Trưởng Lão Tân Viên Tịch thượng Phước hạ An
Kính nguyện Giáo Linh Hoà Thượng Cao Đăng Phật Quốc.
-Thành kính phân ưu cùng môn đồ pháp quyến.


Một đời lặng lẽ giữ đèn kinh,
Bóng chữ Kim Cang sáng tự minh.
Chẳng cầu danh tướng nơi trần thế,
Chỉ nguyện khai tâm giữa hữu tình.

Mực cũ thấm sâu từng nghĩa pháp,
Lời xưa mở lối những căn lành.
Bao lớp hậu sinh nhờ khai giáo
Biết nhìn sắc tướng vốn mong manh.

Giường bệnh cuối đời còn tiếng tụng,
Âm ba Bát Nhã vẫn ngân xa.
Thân huyễn trả về cho tứ đại,
Nguyện tâm còn ở khắp Ta-bà.

Đến đi như gió qua non vắng,
Hiện mất như trăng lặn biển chiều.
Công hạnh âm thầm luôn ban tặng
Đèn soi hậu thế vững đường tu.

Một nén tâm hương dâng trước án,
Nghiêng mình tưởng niệm với sầu thương.
Kính nguyện tiếp nối Thầy gieo hạt
Cho đạo lưu truyền khắp mười phương.

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật .

Sydney 11/2/2026
Hậu bối Huệ Hương khể thủ





HT Thich Phuoc An-1



Kính tiễn Thầy về bên kia bờ Giác



Con đã gom từng lời Kim Cang nổi tiếng
Trong tiếng giảng ngân dài của bậc Đại bi
Muốn gửi về quê nhà
Như một nén tâm hương dâng Thầy cuối buổi.

Nào hay…
Khi con còn phiên tả
Thầy đã lặng lẽ qua sông.

Kinh vẫn đó
Nhưng người nghe đã hóa mây trời.
Tiếng đọc cuối đời bên giường bệnh
Hẳn cũng là tiếng gươm trí tuệ
Chặt đứt mọi luyến lưu.

Con tiếc không phải
vì thầy chưa mỉm cười mãn nguyện
Mà vì con chưa kịp quỳ xuống
Thưa rằng:
Những hạt giống thầy gieo
Đã nảy mầm trong tim con.

Xin nguyện
Lấy Kim Cang làm đuốc sáng
Lấy tâm không trụ làm đường đi
Để mỗi bước con còn học hỏi
Đều là một lạy tiễn thầy
Về bên kia bờ giác.


Sydney 11/2/2026
Hậu bối Huệ Hương khể thủ

xem tiep



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10291)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9148)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 10711)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9272)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 8625)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 8869)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
09/04/2013(Xem: 9838)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 9983)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12803)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8404)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.