Phù Hoa (Thành kính tưởng niệm Trưởng lão Hòa thượng THÍCH PHƯỚC AN, Tăng trưởng Hội đồng Giáo phẩm Trung Ương Viện Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất)

10/02/202619:43(Xem: 459)
Phù Hoa (Thành kính tưởng niệm Trưởng lão Hòa thượng THÍCH PHƯỚC AN, Tăng trưởng Hội đồng Giáo phẩm Trung Ương Viện Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất)

ht phuoc an-1
le nhap liem-on phuoc an (2)on phuoc an (6-) (5)


Phù Hoa

Thành kính tưởng niệm Trưởng lão Hòa thượng THÍCH PHƯỚC AN,
Tăng trưởng Hội đồng Giáo phẩm Trung Ương Viện Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất

Phù hoa giữa chốn nhân gian.
Phủ sương thân tạm, hạc vàng về Tây.
Đồi trại Thuỷ, tiễn góc Thầy.
Hắt hiu gió thổi, Xuân này lạnh sương.


Viện Hải Đức, giữa tình trường.
Thầy an nhiên đứng, gió thường nhẹ bay.
Từ Bình Định, đến trời Tây,
Âm vang sóng biển, pháp Thầy vang xa.


Phù hoa, đất rộng thiên hà.
Kim Cang vững trí, giữa tà ngụy chân.
Phù hoa, gió lộng sóng tầng,
Kim Cang dưỡng đức, muôn phần giới hương.


Phước An tôn hiệu kiêm nhường,
Tàng kinh sách củ, mở đường kinh thư.
Phù hoa, ngàn kiếp phù du.
Phước An, lặng tiếng, chữ Tu một đời.


Phù Hoa trì trí sáng ngời,
Phước An trì luật, thấm lời Thế Tôn.
Phù hoa luận giảng kim ngôn,
Phước An mật tụng, báo Ân trọn tình.


Cà sa lưu trữ bóng hình,
Trên đồi trại thuỷ, ngước nhìn Phật tâm.
Giờ này, rũ bỏ huyễn thân,
Xuân qua đông lại, cõi trần phù hoa.


Xuân về tiễn góc Thiên hà,
Phật Quốc cõi tịnh, bảo toà trang nghiêm.
Tiễn Thầy nhiếp hoá cảnh thiền,
Pháp Tịch Tăng Trưởng, an nhiên mỉm cười…!



Trưởng lão Hòa thượng THÍCH PHƯỚC AN
Tăng trưởng Hội đồng Giáo phẩm Trung Ương Viện Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất.
Đã thu thần viên tịch vào lúc 11h50 ngày 09 tháng 02 năm 2026 (nhằm ngày 22 tháng chạp năm Ất Tỵ)
trụ thế 79 năm, hạ lạp 57 năm.

Chúng con hàng hậu học, Tk Thích Minh Thế, có nhân duyên ghé thăm Đồi trại Thuỷ, nơi lưu dấu chấn tích Phật Học Viện Hải Đức- Nha Trang. Nơi Ôn Phước An lưu trú tu tập suốt ngần ấy thời gian.

Dù phong ba bão táp, dù nghịch cảnh vạn duyên, nhưng Ôn vẫn tự tại trong muôn kiếp phù hoa lãng nguyệt, vẫn tu tập trì tạng kinh luật luận, biện giải sắc ngôn, thọ kinh Kim Cang như gió ngàn hơi thở, trì Bát Nhã như gối tuệ Huyền không.

Ôn là vậy, nên chúng con đến vấn an sức khỏe Ôn vào dịp cuối Hạ vào năm: 2010- 2014, nhưng pháp vị của Ôn trao tặng trong thời gian ấy, chính là Kim Cang tự tánh, vững chắc như Ngài Đại trí Văn Thù.

Bạch Ôn, mùa hạ ấy Ôn có dạy con rằng:

“ Thầy Minh Thế, nên vận hành Kim Cang vào đời sống, xem phù hoa như bóng chớp thu qua, lấy giới làm trọng, lấy hành kim cang làm nhuỵ, lấy hạnh nguyện đi vào đời như chính Phật từng đi, ấy là hạnh nguyện của một vị thiền Tăng…!”

Rồi Ôn đọc vịnh mấy câu thơ:
“…..Xa xa sóng gió biển gầm.

Thấy ngàn giun dế, thương thầm thế nhân.
Bần Tăng lão núi thường dân,
Chiếc y cũ rách, giới thân vẫn còn….!”

Chúng con được hạnh phúc khi Ôn pha cho chúng con ngụm trà, rồi nghe Ôn kể về cuộc đời vinh nhục, Ôn cười tươi và buông nhẹ như chính bài Kinh Kim Cang mà Ôn thọ trì.

Rồi Ôn cho con mấy câu kệ như sau:

“Minh Thế Vạn Sự Thế
Giới Mật hạnh Kim Cang
Vững Trí Không Huyền Mộng
Thế Sự Diệp Y Ngàn…”

Kính bạch Ôn, trong ngần ấy thời gian, chúng con đi du hoá xứ Bắc, làm theo hạnh nguyện của Ôn trong tặng, chúng con đã tu tập như những gì Ôn trao.
Hôm nay, trong không khí cuối năm Ất Tỵ, chúng con nghe tin Ôn thu thần viên tịch, tâm tang của Ôn theo nguyện hạnh di chúc ấn thư. Chúng con ngồi yên để hướng về chùa Hải Đức- Nha Trang. Vọng niệm thành tâm đảnh lễ giác linh Ôn.

Chúng con thành tâm cung tiễn…!

Viết tại phòng thiền thất Hỷ Tịnh- Hà Nội.
Tk: Thích Minh Thế
Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/06/2011(Xem: 9242)
Vua Lê Đại Hành mất vào năm 1005, các hoàng tử tranh giành ngôi vua tạo nên cảnh khổ đau tràn ngập cho Dân Tộc, bên trong bị nội loạn, bên ngoài bị ngoại xâm đe dọa. Trước những thảm trạng đen tối u ám và đầy dẫy những thống hận đó, Vạn Hạnh thiền sư xuất hiện như một thứ ánh sáng phi thường quét sạch vùng trời giông tố để đưa vận nước bước vào thời đại huy hoàng thịnh trị.
24/06/2011(Xem: 8791)
Trận chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Vương Quyền năm 939 là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử dựng nước của Việt Nam. Ngọn sóng Bạch Đằng Giang đã cuốn trôi đi nỗi đau nhục của người dân nô lệ, nhận chìm tham vọng của nòi Hán áp đặt lên đất nước ta trong suốt một ngàn năm. Từ đây Việt Nam không còn là một huyện lỵ của người Hán, từ đây một quốc gia đúng nghĩa đã xuất hiện dưới vòm trời Đông Á.
24/06/2011(Xem: 11115)
Ngài họ Nguyễn húy là Hữu Kê, dòng họ của Đại thần Nguyễn Trãi. Nguyên quán thuộc Tông sơn Gia miêu Ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa. Ngài thọ sanh năm Nhâm Tý (1912), tại làng Nguyệt Biều, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Vốn thọ sanh trong gia đình vọng tộc, quý phái, thích lý luận Nguyễn Hữu Độ.
24/06/2011(Xem: 7895)
Ngài Mật Thể, pháp danh Tâm Nhất, pháp tự Mật Thể, tên thật là Nguyễn Hữu Kê, sinh năm 1912 ở làng Nguyệt Biều, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Chánh quán huyện Tống Sơn, Gia Miêu ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa, thuộc dòng Thích Lý của Cụ Nguyễn Hữu Độ. Gia đình Ngài qui hướng đạo Phật, cụ thân sinh và người anh ruột đều xuất gia.
23/06/2011(Xem: 8566)
Đọc Thánh Đăng Ngữ Lục, do Sa môn Tánh Quảng, Thích Điều Điều đề tựa trùng khắc, tái bản năm 1750, ta thấy đời Trần có năm nhà vua ngoài việc chăn dân, họ còn học Phật, tu tập và đạt được yếu chỉ của thiền, như vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông. Và sự chứng ngộ của các Thiền sư đời Trần thì không thấy đề cập ở sách ấy, hoặc có đề cập ở những tư liệu khác mà hiện nay ta chưa phát hiện được, hoặc phát hiện thì cũng phải tra cứu và luận chứng dài dòng rồi mới kết đoán ra được.
23/06/2011(Xem: 9264)
Đọc sử Phật giáo Việt Nam, hẳn chúng ta đều biết nước mình có một ông vua đi tu ngộ đạo, đó là vua Trần Nhân Tông. Ngài làm vua trong thời gian nước nhà đang bị quân Mông Cổ đem đại quân sang xâm lấn nước ta lần thứ ba.
22/06/2011(Xem: 12281)
Trong sáu thập niên qua, TIME đã không ngừng ghi chép lại những vinh quang cùng khổ nhọc của Á châu. Trong số đặc biệt kỷ niệm thường niên hôm nay, chúng tôi muốn bày tỏ lòng kính trọng của mình đến những nhân vật nổi bật đã góp phần vào việc hình thành nên thời đại chúng ta. Những thập niên xáo động nhất của một lục địa đông dân nhất trên trái đất này đã sản sinh ra hàng loạt những nhân vật kiệt xuất. Trong sáu mươi năm qua, kể từ khi TIME bắt đầu cho xuất bản ấn bản Á Châu, chúng tôi đã có cái đặc ân là được gặp gỡ đa số những nhân vật ngoại hạng này –theo dấu cuộc vận động hay trên chiến trường, trong phòng hội hay trong phòng thí nghiệm, tại cơ sở sản xuất hay tại phim trường.
16/06/2011(Xem: 7735)
Tôi có duyên lành gặp được ngài một lần khi ngài đến thăm Hòa thượng chùa Đông Hưng, bổn sư của tôi, cũng là y chỉ sư của Hòa thượng Quảng Thạc, một để tử xuất gia của ngài khi còn ở đất Bắc. Cung cách khiêm cung, ngài cùng Hòa thượng tôi đàm đạo về quá trình tu tập cũng như Phật học, hai ngài đã rất tâm đắc về chí nguyện giải thoát và cùng nhau kết luận một câu nói để đời : “Mục đích tu hành không phải để làm chính trị”. Cũng câu nói này, khi chia tay chư tăng miền Nam, ngài đã phát biểu với hàng pháp lữ Tăng ni đưa tiễn. Khi sưu tập tư liệu về cuộc đời của ngài, tôi may mắn gặp được các bậc tri thức cao đồ của ngài kể lại. Nay, nhân có cuộc hội thảo về phong trào chấn hưng Phật giáo miền Bắc và công hạnh của ngài, tôi xin được góp thêm đôi điều.
14/06/2011(Xem: 8878)
Thiền sư PHÁP THUẬN (Bính Tý 918): Thiền sư đời Tiền Lê, thuộc dòng thiền Tỳ-Ni-Đa-Lưu Chi, không rõ gốc gác quê quán và tên thật, chỉ biết rằng Sư họ Đỗ, xuất gia từ thuở nhỏ ở chùa Cổ Sơn (Thanh Hóa), sau theo học đạo Thiền sư Phù Trì ở chùa Long Thọ, nổi tiếng là uyên thâm đức độ. Tương truyền rằng chính Sư đã dùng nghệ thuật phù sấm, làm cố vấn giúp vua Lê Đại Hành nắm quyền bính, dẹp yên được hỗn loạn trong triều cuối đời nhà Đinh, được vua Lê vô cùng trọng vọng. Năm 990 niên hiệu Hưng Thống thứ 2, Sư không bệnh mà viên tịch, thọ 76 tuổi, để lại cho đời các tác phẩm: “Bồ Tát sám hối văn”, “Thơ tiếp Lý Giác”, và một bài kệ.
14/06/2011(Xem: 8941)
• Thiền sư Chân Không(Bính Tuất -1046): Sư họVương, thế danh Hải Thiềm, quê quán ở làng Phù Đổng (nay là Tiên Sơn-Bắc Ninh), xuất thân trong một gia đình quý tộc. Lúc thân mẫu của ông mang thai, cha ông nằm mộng thấy một vị tăng Ấn Độ trao cho cây tích trượng, sau đó thì ông ra đời. Mồ côi cha mẹ từ thuở niên thiếu, ông siêng chăm đọc sách không màng đến những chuyện vui chơi. Năm 20 tuổi ông xuất gia, rồi đi ngao du khắp nơi để tìm nơi tu học Phật Pháp. Nhân duyên đưa đẩy cho Sư đến chùa Tĩnh Lự ở núi Đông Cứu (Gia Lương-Hà Bắc), nghe Thiền sư Thảo Nhất giảng kinh Pháp Hoa mà ngộ đạo, được nhận làm đệ tử, sớm tối tham cứu thiền học, và được sư thầy truyền tâm ấn, thuộc dòng thiền Tì-ni-đa Lưu -chi, thế hệ thứ 16. Sau, Sư lên núi Phả Lại, trại Phù Lan (nay thuộc huyện Mỹ Văn-Hưng Yên) làm trụ trì chùa Chúc Thánh, ở suốt 20 năm không xuống núi để chuyên trì giới luật, tiếng thơm đồn xa đến cả tai vua.