Bóng Thầy

17/01/202620:23(Xem: 1190)
Bóng Thầy


on tue sy-4
BÓNG THẦY

Nguyên Minh Nguyễn Minh Tiến
Diễn đọc: Phật tử Diệu Danh




Bài Phát biểu trong Lễ Đại tường tưởng niệm Giác linh Cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ tại Tu viện Đại Bi, ngày 29 tháng 11 năm 2025.

(Kính thưa…)

Trong không khí trang nghiêm nhưng vô cùng ấm cúng của Lễ Đại tường hôm nay, thấm đẫm đạo tình và đạo vị, con thật may mắn được Hòa thượng Trưởng ban, cũng như quý anh chị em trong Ban Tổ chức, cho phép được nói lên đôi lời cảm niệm trước Giác linh Cố Trưởng lão Hòa thượng, cũng là bày tỏ một phần nào những cảm xúc riêng để chia sẻ cùng đại chúng.

Trong phát biểu này, xin cho phép con được dùng duy nhất một tiếng THẦY để nhắc về Cố Trưởng lão Hòa Thượng, với tất cả những ý nghĩa sâu rộng, thành kính và thân thương nhất mà một người học Phật có thể dùng để nói về Thầy.

Kính thưa quý vị.

Chỉ cần nhắc đến Thầy, mỗi người trong chúng ta ở đây hôm nay hẳn đều nhớ đến rất nhiều kỷ niệm, nhiều ấn tượng khó quên. Bởi một đời hành đạo của Thầy, trong thực tế không chỉ giới hạn ở những không gian nơi Thầy hiện diện, ở những thời gian ta còn may mắn có thể đến bên Thầy. Vượt ra ngoài mọi không gian và thời gian đó, Thầy là cây cao bóng cả với tầm ảnh hưởng sâu rộng đến tứ chúng, đến khắp mọi tầng lớp Phật tử Việt Nam, ngay cả khi nhục thân của Thầy không còn nữa.

Điều này, mỗi chúng ta đều đã thấy rõ trong hơn nửa thế kỷ qua. Từ giảng đường Đại học Vạn Hạnh năm xưa, nơi ươm mầm tri thức và đạo hạnh cho nhiều thế hệ Phật tử, mà Thầy là một trong những bậc thầy gắn bó với trường; từ những ngục tù lao khổ thầy đã ung dung đi qua, hiển lộ đại hùng đại lực của bậc chân tu đạo hạnh, soi đường cho cả một thế hệ Phật giáo Việt Nam; và cho đến những giây phút cuối đời trên giường bệnh, Thầy vẫn gắn bó với công trình phiên dịch Đại tạng kinh và trọng trách điều hành Giáo hội. Thầy vẫn mỉm cười thong dong trước lúc ra đi, ngay cả khi xác thân hao gầy đớn đau vì bệnh tật.

Trong từng ấy tháng năm ngắn ngủi của một đời người, với biết bao thăng trầm lịch sử, những gì Thầy đã gieo vào lòng người, đã để lại cho hậu thế, cả về tinh thần cũng như vật thể, quả thật là không thể suy lường đo đếm hết.

Bóng Thầy che mát chúng con

Thầy như bóng mây che mát, ai trong chúng con cũng đều cảm nhận được bóng mát ấy khi có Thầy. Trong kinh Pháp Hoa, phẩm Thí dụ Cỏ thuốc nói về một vầng mây lớn che bóng khắp thế gian. Trong tâm tưởng riêng con, Thầy chính là vầng mây đó. Chúng con mỗi người một nơi, cách xa nhau hàng vạn dặm, nhưng trong những ngày Thầy còn tại thế, ai cũng cảm nhận được sự an ổn đến từ Thầy. Công việc khó khăn, cuộc sống nhiều bận rộn, đường đời gập ghềnh sóng gió, nhưng chỉ cần nghĩ đến Thầy, nghe được lời khuyên từ Thầy, thậm chí là chỉ cần nhớ về những lần được gặp Thầy, dường như đã quá đủ để chúng con thấy vững thêm niềm tin, được tiếp thêm năng lượng và cảm nhận ngay được sự ấm áp, an ổn trong lòng. Vì sao vậy? Vì ngay khi ấy chúng con nhớ lại rằng, giữa thế sự nhiễu nhương này, ánh từ quang của Phật pháp vẫn không ngừng tỏa chiếu từ một bậc thầy chân tu đạo hạnh.
Con nhớ có lần, đó là lần đầu tiên con lưu hành bản dịch kinh Đại Bát Niết-bàn, khoảng giữa năm 2009, con đã được Thầy đưa tay nâng đỡ lúc con cần đến nhất. Sau gần mười năm kiên trì chuyển dịch, con rơi vào tâm trạng mừng lo lẫn lộn khi kinh Đại Bát Niết-bàn bắt đầu lưu hành. Là một cư sĩ với tri kiến cạn cợt, con chỉ vì sự thâm cảm với Giáo pháp mà dám bạo gan chuyển dịch bộ kinh đồ sộ này. Nhưng khi kinh bắt đầu lưu hành, lòng con lo lắng khôn nguôi, chỉ sợ mình không đủ khả năng diễn đạt Thánh ý, có thể làm sai lệch Giáo pháp. Ngay khi vừa xuất bản, con đã đến Già Lam kính dâng kinh lên Thầy. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, khi con có dịp đến vấn an, Thầy bảo con: “Tôi đọc phần Dẫn nhập rồi. Cách làm của anh như vậy là đúng, cứ như vậy là được.”

Hẳn Thầy không ngờ rằng câu nói ấy quan trọng biết bao đối với con khi ấy! Thầy đã nói ra một cách nhẹ tênh khi con đi bên Thầy, như thể chỉ là một trao đổi thân tình ngẫu nhiên. Nhưng con biết ngay điều đó không hề ngẫu nhiên. Thầy đã nói đúng vào điều cốt lõi mà con muốn trình bày trong phần Dẫn nhập, chính là phương thức mà con đã vận dụng xuyên suốt trong quá trình chuyển dịch. Và hơn thế nữa, Thầy tán thành với phương thức đó. Nhận xét khích lệ của Thầy đã cất đi gánh nặng ưu tư và thắp sáng niềm tin để con có thể vững tâm theo đuổi việc chuyển dịch kinh điển. Nhiều năm sau đó, con vẫn tiếp tục nhận được nhiều sự khích lệ từ Thầy, nhưng chính sự nâng đỡ ban đầu khi con đang cần đến nhất đã là động lực và niềm tin giúp con vững bước.

Con biết rằng nhiều anh chị em thân hữu khác cũng nhận được những lời khuyên, những bài học quý báu từ Thầy, trong những trường hợp riêng tư khác. Nhưng vượt trên tất cả, đời sống an nhiên và tấm gương đạo hạnh của Thầy chính là bóng mây che mát khắp mọi nơi, vì bất cứ ai trong chúng con cũng đều cảm nhận được.

Trong kinh Pháp Hoa, đức Phật ví Giáo pháp như cơn mưa đổ xuống từ vầng mây, tưới khắp thế gian, từ đại thụ cho đến những cây vừa, cây nhỏ… tùy theo nhu cầu đều được tươi tốt. Với riêng con, Thầy chính là vầng mây đổ xuống cơn mưa pháp. Những lời dạy trực tiếp từ Thầy, những kinh sách Thầy biên soạn, chuyển dịch, nhiều đến mức không ai trong chúng con có thể nghe qua, đọc qua tất cả. Thế nhưng mỗi người trong chúng con, bằng cách này hay cách khác, đều đã từng được tiếp nhận một phần, đều được nuôi dưỡng từ dòng sữa pháp ấy. Và không chỉ là những đại thụ, những cây vừa, cây nhỏ… được mưa pháp của Thầy tưới tẩm, thậm chí đến hạng cỏ dại ven suối như con cũng được thấm nhuần để xanh lá trổ hoa.

Bóng Thầy phía trước soi đường con đi

Thật vậy, khi bước chân vào khu rừng Phật học, con chỉ như khóm cỏ dại nằm ven suối. Bởi khi Thầy đứng trên bục giảng Đại học Vạn Hạnh thì con chỉ là cậu bé con đang học Trung học. Thế nhưng, đọc sách của Thầy, nghe các anh chị lớn kể về Thầy, con đã vô cùng ngưỡng mộ. Khi hình dung Thầy nhỏ nhắn như một chú tiểu nhưng đã đứng trên bục giảng Đại học, trí óc non nớt của con đã vẽ ra một bậc Thầy tuổi trẻ tài cao, siêu phàm xuất chúng mà con luôn ao ước được gặp. Rồi khi lớn lên, được tiếp xúc với những lời dạy của Thầy, qua các tác phẩm của Thầy, sự ngưỡng mộ của con càng tăng dần theo năm tháng. Từng bước học Phật của con về sau, dường như chưa bao giờ thiếu vắng sự soi chiếu từ hình tượng của Thầy.

Sau năm 1975, sách vở dần khan hiếm và Kinh sách Phật học cũng không ngoại lệ. Thế nhưng, thật kỳ diệu là những tác phẩm của thầy vẫn được nhiều người lưu giữ, những lời dạy của Thầy vẫn được âm thầm chia sẻ. Vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi sau này con tiếp xúc với rất nhiều anh chị em trong giới học Phật, luôn thấy rằng các vị ấy đều ít nhiều chịu ảnh hưởng từ tư tưởng và hành trạng của Thầy. Với những lời dạy trung thực, thẳng thắn và giữ vững Chánh đạo trước thế quyền, Thầy quả thật là bậc Đạo sư (導師) theo đúng nghĩa dẫn dắt, soi đường. Trong suốt một thời gian dài khi xã hội suy vi tăm tối, chỉ riêng sự hiện hữu của Thầy đã như một ngọn đuốc soi đường dẫn lối trong đêm.

Trên con đường gập ghềnh nhiều lúc tưởng chừng như vô định bởi những biến chuyển thời cuộc, chúng con như luôn nhìn thấy hình bóng Thầy phía trước, giúp chúng con yên lòng đi tiếp. Nhiều người thuộc thế hệ chúng con còn giữ được niềm tin vào Đạo pháp, còn vững bước đi theo những lời dạy của đức Thế Tôn, chính là nhờ có sự soi chiếu dẫn dắt từ hình bóng Thầy. Thầy không chỉ dạy chúng con bằng lời nói, qua sách vở, mà còn bằng chính những biểu hiện thường nhật, ngay trong những việc làm tưởng như nhỏ nhặt của Thầy.

Mặc dù đã ngưỡng mộ và chịu ảnh hưởng của Thầy từ nhỏ, con còn nhớ phải đến khoảng cuối năm 1999 mới được trực tiếp gặp Thầy lần đầu tiên khi cùng đi với Đỗ Quốc Bảo. Hôm ấy, Thầy đã trò chuyện với chúng con suốt buổi sáng và con được dùng cơm trưa cùng Thầy trên căn gác nhỏ. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi nhưng để lại trong con nhiều ấn tượng mãi đến nay chưa phai mờ. Trong lúc chuyện trò, thầy đã nói khá nhiều về những kinh nghiệm dịch thuật, tra cứu. Phần lớn đều là những bài học, những chuẩn mực quan trọng mà đến nay con vẫn cố gắng hết sức để noi theo.

Con còn nhớ rất rõ, trong khi bàn luận về các vấn đề, Thầy đã thận trọng đi đến kệ sách, lấy ra đúng quyển sách đang đề cập và mở đúng đoạn cần trích dẫn để chỉ cho chúng con xem. Thầy làm tất cả những việc đó với sự chắc chắn và quen thuộc tự nhiên, như thể tất cả đều nằm sẵn trong trí nhớ siêu tuyệt của Thầy, nhưng Thầy vẫn tỉ mỉ đưa ra từng trang sách cho chúng con xem để chứng minh từng vấn đề.
Sự cẩn trọng thành nếp của Thầy đã ảnh hưởng rất nhiều đến phương thức tra cứu, dịch thuật của bản thân con cho đến tận bây giờ. Con thật may mắn, không chỉ được học ở những lời Thầy dạy, mà còn chính từ những thao tác nhỏ nhặt của Thầy. Có lẽ chính vì vậy mà cả một thế hệ trẻ đã chịu ảnh hưởng rất nhiều từ Thầy, không chỉ qua những lời dạy hay sách vở, mà còn là qua hình tượng của một bậc Thầy trí tuệ, nghiêm cẩn nhưng bao dung, gần gũi. Bất cứ ai đã từng biết đến Thầy đều dễ dàng cảm nhận được những phẩm tính này.

Bóng Thầy ấm áp quanh con

Sự bao dung, gần gũi của Thầy thể hiện rõ trong cung cách Thầy tiếp xúc với chúng con. Dù là một bậc Thầy lớn, ngay trong lần đầu tiên được gặp Thầy, con vẫn cảm nhận được Thầy đã dành cho con sự thân thương gần gũi, không hề cách biệt. Những năm sau đó, con được gặp Thầy nhiều hơn, có những lần Thầy còn bảo con nghỉ đêm lại Hương Tích để không phải chạy xe máy về vì đường quá xa. Nhờ vậy, con được chuyện trò, tiếp xúc nhiều hơn với Thầy. Lòng từ mẫn thầy dành cho con trước sau vẫn không thay đổi. Nhiều năm về sau khi đã đi xa, con luôn nhớ về những lần được gặp Thầy như những kỷ niệm êm đềm và ấm áp nhất trong cuộc đời mình.

Trong kinh Pháp Hoa, phẩm Tin hiểu, ngài Ca-diếp nêu ví dụ về ông trưởng giả sang quý, vì thương đứa con hèn kém, đã cởi bỏ những chuỗi ngọc và y phục tốt đẹp, mặc vào người y phục thô xấu để có thể đến gần dạy bảo con mình. Lòng từ mẫn của Thầy cũng không khác. Thầy đã từ bỏ hình thức uy nghiêm của một bậc đại tăng, gần gũi thân thiết cùng tất cả chúng con để có thể ân cần dạy bảo, khuyên nhủ. Mãi cho đến hôm nay, con vẫn còn chưa hết nỗi băn khoăn lạ lẫm mỗi khi nhớ lại những lần được gặp gỡ, thân cận bên Thầy. Con thật không dám nghĩ đến việc một bậc Thầy tôn nghiêm oai đức lớn như Thầy đã từ mẫn cho con cơ hội được ngồi cùng bàn, chia sẻ cùng một đĩa thức ăn, cho đến cùng ngủ nghỉ dưới một mái nhà. Sự thân thiết mà Thầy đã dành cho con đó thật vô cùng lớn lao. Thật trân quý biết bao, tâm từ mẫn của một bậc Thầy đối với hàng hậu học! Dù đã bao năm trôi qua con vẫn không quên. Mỗi khi nhớ đến Thầy, con vẫn như còn thấy được hình bóng ấm áp của Thầy luôn ở bên cạnh con trong những công trình con đang theo đuổi.

Kết từ

Kính bạch Giác linh Thầy!

Thầy xuất hiện trong thế gian này là một duyên lành lớn lao và hiếm có đối với tất cả chúng con. Tám mươi năm trụ thế của Thầy, tưởng chừng như thật ngắn ngủi, không đủ để thỏa lòng khát khao Pháp nhũ của phàm phu chúng con, nhưng đã quá đủ để thắp lên ngọn truyền đăng bất diệt cho nhiều thế hệ hôm nay và mai sau.

Kính bạch Giác linh Thầy!

Thầy như bóng mây che mát chúng con, như cơn mưa tưới tẩm đất khô cằn!

Thầy như ngọn đuốc soi đường trong đêm cho những ai đang lạc lối!

Thầy như gió mát, như nắng ấm, như khí trời luôn hiện hữu quanh con. Vì cho dù Thầy đã đi xa, những lời dạy và hình bóng Thầy vẫn luôn ở lại cùng chúng con.

Như một dự cảm, trong Lời Giới thiệu cho sách Tây Vực Ký được Thầy viết không lâu trước khi viên tịch, Thầy đã để lại cho chúng con một di huấn mà mỗi khi đọc lại con vẫn còn chưa hết bùi ngùi. Hôm nay, trước Giác linh Thầy, con xin kính cẩn lặp lại di ngôn được ghi ở cuối Lời giới thiệu này. Chúng con nguyện vâng theo lời Thầy, sẽ luôn nỗ lực để “tự mình tìm thấy con đường đi chân chính, vì an lạc cho chính mình, cho nhiều người, trong đời này và trong nhiều đời sau.”

Thành kính tưởng niệm Giác linh Thầy! 



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/04/2021(Xem: 12973)
Thiền Uyển Tập Anh chép Đại sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu (933 – 1011) tu ở chùa Phật Đà, Thường Lạc nay là chùa Đại Bi núi Vệ Linh Sóc Sơn, Hà Nội. Ngài thuộc thế hệ thứ 4 Thiền phái Vô Ngôn Thông. Ngài người hương Cát Lợi huyện Thường Lạc, nay thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội, thuộc dòng dõi Ngô Thuận Đế (Ngô Quyền). Theo Phả hệ họ Ngô Việt Nam, Thiền sư Ngô Chân Lưu tên huý là Xương Tỷ, anh trai Thái tử - Sứ quân Ngô Xương Xý, con Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập, cháu đích tôn của Ngô Vương Quyền. Ngài dáng mạo khôi ngô tuấn tú, tánh tình phóng khoáng chí khí cao xa, có duyên với cửa Thiền từ năm 11 tuổi.
23/04/2021(Xem: 7175)
Hoà thượng Thích Từ Hương thế danh là Nguyễn Mạnh Trừng. Sinh ngày 20 tháng 6 năm 1928 tại thôn Vĩnh An, xã Mỹ Phong, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.Trong một gia đình phú nông. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Tiêm. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Chai pháp danh Nhật Cang. Từ lúc ra đời cho đến năm 1954, Hoà thượng ở tại quê nhà theo học tiểu học và sinh sống tại địa phương.
23/04/2021(Xem: 6849)
Hòa thượng Đạo hiệu Thích Thiện Duyên, thế danh Võ Đình Như, sinh ngày 20/10/1926 tại thôn Hội Vân, xã Cát Hiệp, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Ngài là con thứ 3 trong gia đình. Thân phụ và thân mẫu của Hòa thượng là cụ ông Võ Toản pháp danh Nhựt Toàn và cụ Bà Đặng Thị Chức pháp danh Diệu Phát. Gia đình Ngài có truyền thống Phật giáo thuần thành. Với túc duyên nhiều đời, từ nhỏ, Ngài thường được bà nội dẫn đến chùa làng tụng kinh niệm Phật. Gặp lúc Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Hòa từ chùa Trà Can, Tháp Chàm – Phan Rang về tổ chức lễ truyền Tam Quy Ngũ giới tại chùa Tịnh An, Phù Cát, Bình Định, Ngài sớm thọ Tam quy Ngũ giới trong dịp này.
11/04/2021(Xem: 12169)
Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Kính bạch Chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni, Kính thưa tất cả quý Phật tử trong và ngoài nước, Thiền viện Trúc Lâm Đại Đăng xin trân trọng kính báo: Thượng Toạ Thích Tuệ Giác, Hội trưởng Hội Thiền Học Việt Nam Hải Ngoại, Viện trưởng Tổ Đình Thiền viện Trúc Lâm Đại Đăng, Đã viên tịch vào lúc 4:30 chiều Thứ Bảy ngày 10 tháng 4 năm 2021 (nhằm 29 tháng 2 năm Tân Sửu) Tại Thiền viện Trúc Lâm Đại Đăng, Quận hạt San Diego, CA, Hoa Kỳ. Trụ thế 62 năm, 31 Hạ Lạp Chương trình Tang Lễ của Thượng toạ Thích Tuệ Giác sẽ được kính báo trong thời gian sớm nhất. Chúng con nhất tâm xin cung thỉnh Chư Tôn Thiền Đức và mời gọi quý Phật tử cùng chung lòng cầu nguyện. Thay mặt BTC Tang Lễ xin được trân trọng kính báo. Tỳ kheo Thích Tuệ Tỉnh
31/03/2021(Xem: 7598)
Trễ hẹn trong tang lễ, rồi cúng 21 ngày và 49 ngày cố nhạc sĩ Hằng Vang ( 1936 – 2021 ), một số Anh Chị em cựu huynh trưởng giữ đúng lời hứa, rất uy tín, lòng tự dăn lòng rằng nhất định sẽ họp mặt để cùng nhau thắp cho vị nhạc sĩ nén hương tưởng nhớ, tri ân những dòng nhạc mà phần lớn đã theo chân nhiều thế hệ Gia Đình Phật Tử ( GĐPT ) và các đoàn thể thanh thiếu niên Phật giáo, nối tiếp nhau cho đến tận hôm nay. Và ngày đó phải là ngày cúng chung thất 49 ngày, nhất định không hẹn xa xăm nửa. Sau khi loại trừ nhiều trở ngại, cộng vào nh74ng thuận duyên chung, tất cả đã chọn ngày chủ nhật 21/03/2021 9 nhằm ngày mùng 9 tháng hai năm Tân Sửu vừa rồi
10/03/2021(Xem: 7775)
Cố Hòa Thượng thế danh Đặng Hữu Tường, pháp húy Nguyên Phước, tự Quang Thể, hiệu Đạt Minh; nối pháp đời 44 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 10 pháp phái Liễu Quán. Ngài lâm thế ngày 19 tháng 9 năm Nhâm Tuất (1922) tại làng An Hải, quận III (nay là phường An Hải, quận Sơn Trà), thành phố Đà Nẵng; chánh quán làng Quảng Lăng, xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ Ngài là cụ ông Đặng Văn Vịnh (tức Nuôi) và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Ớt. Ngài là trưởng nam trong một gia đình có năm anh em gồm ba trai và hai gái. Năm lên 9 tuổi, thân phụ qua đời, từ đó mẫu thân một mình tần tảo nuôi con. Trong thời gian này, Ngài được mẫu thân gởi đến Thầy Tư Tri (Như Tín) – trụ trì chùa An Hải lúc bấy giờ – nhận cho nhập Chúng tu học.
10/03/2021(Xem: 17231)
Cư sĩ Quảng Hải Phan Trung Kiên sinh năm Nhâm Dần (1962) tại Phường Tân Thái, Quận 3, Đà Nẵng (nay là Phường Mân Thái), là người con thứ ba trong gia đình có 9 anh em (5 trai, 4 gái). Vượt biên cùng với Ba và 3 anh em trai vào tháng 6 năm 1981 và định cư đến Mỹ vào cuối tháng 3 năm 1982. Má và các em gái cùng em trai út vượt biên năm 1988 và cả gia đình sum họp tại Hoa Kỳ vào năm 1989.
01/03/2021(Xem: 30909)
Trang nhà Quảng Đức vừa nhận được tin buồn: Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã thuận thế vô thường, thâu thần viên tịch vào lúc 21 giờ 20 phút ngày Thứ Bảy 22/02/2020 nhằm ngày 29/01 Âm lịch năm Canh Tý, Phật lịch 2563 tại Chùa Từ Hiếu, Phường 1, Quận 8, Sài Gòn. Trụ thế: 93 năm. Chương trình tang lễ sẽ được công bố trong thời gian sớm nhất có thể. Chúng con thành kính nguyện cầu Đức Đại Lão Hòa Thượng Cao Đăng Phật Quốc và sớm tái sanh trở lại thế giới Ta Ba để tiếp tục công cuộc hoằng Pháp lợi sanh. Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật
23/02/2021(Xem: 8439)
Tin buồn Cư sĩ Đỗ Đình Đồng; Pháp danh: Chơn Trí đã an nhiên trút hơi thở tại Hoa Kỳ vào lúc 01 giờ 02 phút khuya ngày 17 tháng 2 năm 2021 (mồng 6 tháng giêng năm Tân Sửu). Hưởng thọ 76 xuân. Trong một cơn bạo bệnh, ông bị máu đông trong động mạch phổi. Bác sĩ cho ống thông vào để phá máu đông nhưng tim ông đã ngừng đập khiến ông phải thở bằng máy và đã an nhiên trút hơi thở cuối cùng sau một ngày một đêm trên máy thở. Ông ra đi đột ngột khi đang dịch dang dỡ một quyển sách khác về giáo lý đạo Phật. Ông thanh thản hồn nhiên trút hơi thở, không biểu hiện sự đau đớn, và có hiền thê, hiếu tử hiền tôn bên cạnh niệm Phật cầu nguyện.
03/02/2021(Xem: 33241)
Vừa qua nhóm ảnh Nhất Chi Mai thuộc tu viện Phước Hòa (Đồng Nai), được sự hướng dẫn của Thượng toạ Viện chủ đã đến Buôn Mê Thuột để quay những thước phim đầu tiên về nhạc sĩ Hằng Vang. Cùng với cố nhạc sĩ Lê Cao Phan, Bửu Bác... được xem như lớp tiền phong của dòng tân nhạc Phật giáo. Nhạc sĩ Hằng Vang tên thật là Nguyễn Đình Vang, sinh năm 1933 tại Huế. Trong hơn 60 năm sáng tác, ông có hàng trăm ca khúc về đề tài này, nổi bật nhất là ca khúc Ánh Đạo vàng (1958) đã thấm sâu vào lòng Phật tử suốt thời gian dài từ khi ra đời.