Ôn đến và đi như thế (kính tưởng niệm Ôn Tuệ Sỹ nhân Lễ Đại Tường của Người)

06/12/202509:11(Xem: 1239)
Ôn đến và đi như thế (kính tưởng niệm Ôn Tuệ Sỹ nhân Lễ Đại Tường của Người)

ht tue sy
ÔN ĐẾN & ĐI NHƯ THẾ
Thành kính tưởng niệm Ôn Tuệ Sỹ nhân Lễ Đại Tường của Người

 

Khi đại thụ ngã xuống, một khoảng trời trống vắng cô liêu bày ra nhưng trong tâm tưởng con người thì bóng dáng đại thụ vẫn sừng sững không thể xóa nhòa. Khi lau sậy gầy hao phơ phất trong nắng tà quái chiều hôm, bông lau trắng xóa cả trời chiều, tưởng chừng như vô thanh nhưng sóng âm đồng vọng ngập trong đất trời.

Một ngày trong buổi tàn Thu, tứ chúng từ bốn phương đồng loạt làm lễ đại tường tưởng niệm Ôn, ôn lại hàng trạng Ôn, khắc cốt ghi tâm công hạnh Ôn và nguyện tiếp bước theo con đường Ôn đã tiếp nối và dựng lập.

Ôn đến cõi này với thân phận một người Viêt Nam giản dị nhất, thanh tịnh nhất, tinh tấn nhất, dõng mãsnh và vô úy nhất…Ôn là niềm vinh dự không chỉ của Phật giáo mà là của tất cả người Viêt Nam. Tuổi thọ của Ôn tương đương vói thọ mạng của phần lớn người đời nhưng di sản của Ôn để lại thì đến muôn người không sao sanh nổi. Suốt cuộc đời Ôn vì đạo pháp và dân tộc. Chống đỡ những gãy đổ trong ngôi nhà Phật giáo, dựng lập những đổ vỡ trong Phật giáo, bảo tồn và giữ gìn thanh quy, chăm lo giáo dục – văn hóa, dịch kinh luận, giảng dạy tứ chúng, trước tác văn – thơ, phục hoạt giáo hội dân, chấn tác những bại hoại trong đạo ngoài đời, lên tiếng cho tự do tôn giáo cũng như dân sinh… Kể sao hết những cơ nghiệp Ôn để lại? Gầy hao thân lau sậy mà cốt cách đại tượng sư vương, phơ phất tà áo lam nhưng lại là tòng lâm thạch trụ. Đôi mắt sáng như sao hàm chứa cả một biển trí huệ, nụ cười hiền hòa là tấm lòng đại bi, phong cách nhẹ nhàng ung dung nhưng đích thị kim cang vô úy…phải chăng Ôn cũng chính là hiện thân của hạt cải chứa núi Tu Di. Chuyện xưa có ông thứ sử Hồng Châu hỏi ngài Mã Tổ: Tu Di chứa hạt cải thì tôi tin nhưng hạt cải sao chứa Tu Di được?”. Ngài Mã Tổ sờ từ đầu tới chân rồi bảo: “Chỉ chừng như cây dừa con, sao nghe đồn ông là Lý vạn quyển? vậy chứa chỗ nào?”. Nói gì hạt cải chứa núi Tu Di, ngay cả hạt bụi còn dung cả vũ trụ, giọt sương thâu nhiếp cả sơn hà đại địa kia mà!

Vạn pháp do duyên sanh, vạn pháp cũng do duyên diệt. Duyên sanh diệt vốn không có tự tánh, vốn không, vậy vạn pháp có được sao? ấy vậy mà lại có, có đó nhưng chính là không. Dẫu có rành tứ cú, giỏi bách phi cũng không sao biện giải cho được có với không. Tứ đại của Ôn, của sa môn nhà Phật cũng có đó mà không, không mà là có, có là tạm có để duy trì mạng mạch phật pháp, cơ đồ Phật giao Việt Nam. Tứ đại của Ôn cũng do duyên sanh rồi cũng vì duyên diệt. Ôn có đấy hay không còn nữa cũng đều do duyên, duyên vốn không nên Ôn ung dung đến và nhẹ nhàng đi khỏi thế gian này. Nhờ tánh không mà Ôn vô úy, vô quái ngại khi đụng đến những chẻ chia ttranh đoạt trong đạo, những thị phi, mạ lỵ, khủng bố ngoai đời. Ôn sống với tánh không nên chẳng có chi có thể lay chuyển tâm bồ đề của Ôn, dù là tù đày ngục thất, cấm bế hay giam lỏng, những danh văn lợi dưỡng với ngôi vị, phẩm trật lại càng chẳng đáng để nói đến, những thứ ấy chỉ là bọt bèo bụi bám mà thôi. Ôn đến đi tự nhiên chẳng vướng mắc hay sợ hãi, vì duyên mà tiến như chánh pháp, rồi lại vì duyên mà thoái như chánh pháp, vì duyên mà nói như chánh pháp và cũng vì duyên mà im lặng như chánh pháp.

Những đêm chong đèn trong Thị Ngạn am với phương trời viễn mộng hay sở thuyết Duy Ma cật, Thắng Man giảng luận…Những ngày độc hành ly viễn trên đường thiên lý từ Già Lam, Hải Đức, Vạn Giã, Lương Sơn, Bảo Lộc…Ôn độc hành ly viễn như chánh pháp. Ôn dạy chúng, gặp gỡ thiện tri thức cũng như chánh pháp. Cuộc đời Ôn như huyền thoại Duy Ma Cật. Lòng thương nhớ, tôn kính nghĩ tưởng Ôn ngồi trong thiền thất hay trong ngục thất tự dưng thấy như trời mưa hoa trắng cả hư không.

Văn hệ Bát Nhã, Thanh Văn tạng là lời Phật dạy được ghi chép bằng tiếng Phạn: Sanskrit, Pàli đã được phiên dịch ra tiếng Hán, Tạng, Anh, Nhật nay đến lượt dịch sang tiếng Việt. Ôn khởi động lại công trình phiên dịch vốn đã được tiến hành trước 1975 bởi các vị trưởng lão trong GHPGVNTN. Công trìsnh bị gián đoạn bởi thế cuộc vận suy của nươc nhà. Ôn làm việc cẩn trọng vô cùng, đối chiếu từng chữ, từng lời, từng thuật ngữ với các bản Pàli, Sanskrit, Anh, Nhật, Tạng…Sức làm việc thật phi thường, tấm thân già yếu và mong manh như lau sậy nhưng có một năng lực không sao tưởng nổi, khó có ai sánh kịp. Ôn nhỏ nhẹ mà âm đồng vọng khắp bốn phương trời.

Trọn cuộc đời Ôn đến - đi, tiến – lui, nói – im lặng đều vì mạng mạch Phật pháp, vì dân tộc và nước non này.

NGUYÊN SA MÔN KHÂM THỪA TỔ PHỤ DUY TRÌ MẠNG MẠCH PHẬT PHÁP

CHỨNG TRÍ GIẢ ỦY THÁC HẬU SANH PHỔ BIẾN TƯƠNG TỤC KỆ KINH

 

TUỆ PHẬT QUANG, KINH LUẬT LUẬN TRIỆT THÔNG, GIÁO DƯỠNG MÔN ĐỒ, ĐƯƠNG THÂN TÒNG LÂM THẠCH TRỤ

SỸ THẦN KHÍ, VĂN THI HỌA XUẤT SẮC, QUAN HOÀI ĐẠI CHÚNG, BẢN THỂ ĐẠI TƯỢNG SƯ VƯƠNG

Ngày xưa, tổ sư Từ giảng tánh không, vua nước Kế Tân (Kashmia ngày nay) nói: “Sa môn luận tánh không, tứ đại giai không, vậy có thể cho trẫm mượn tạm cái đầu”. Tổ sư Từ vạch áo vươn cổ cho vua chém. Ngài Tăng Triệu hai mấy tuổi viết Triệu Luận làm chấn động Phật giáo Trung Nguyên, vậy mà khi bị nạn vẫn ung dung ngâm kệ: “Đưa cổ đón kiếm bén/như đón làn gió xuân”. Những năm pháp nạn ở miền Nam, ngài Quảng Đức ngồi bất động trong biển lửa, vẻ mặt bình thản không một chút sợ sệt. Ngài vô úy từ lời nói, hành động, cử chỉ… Toàn bộ thân và tâm ý chỉ vì sự tồn vong của Phật pháp. Ngày nay Ôn nhận án tử hình, ngồi trong ngục thất “ngón tay nào gõ nhịp xuống tương rêu” (thơ thầy Tuệ Sỹ). Ngục tù những chế độ độc tàn tàn bạo kinh khủng lắm: Một chân cùm chung  trong những thanh sắt dài với những tù nhân khác, còn chân kia cùm trong cùm sắt cá nhân, cùm đến bại liệt  luôn, đánh đập tàn bạo như thời trung cổ, ăn uống đói khát, chỉ đủ khỏi chết, còn các điều kiện sống khác thì hầu như chẳng có gì… (đọc Cởi Trói của nhà văn Vĩnh Hảo sẽ biết rõ hơn. Vĩnh Hảo cũng là tu sỹ, học trò của Ôn, đã bị cầm tù nên ghi nhận lại rất trung thực và chính xác). Tấm gương vô úy của chư tổ và Ôn thật vĩ đại biết bao. Người đời gọi là dũng khí nhưng trong đạo gọi là vô úy. Người đời xưng tụng là anh hùng nhưng nhà Phật bảo đại trượng phu. Người đời còn có thể có mục đích chính trị hay mục đích chi đấy mà hành hoạt. Còn chư tổ và Ôn hoàn toàn không có mục đích cá  nhân, chẳng vì chính trị hay danh lợi…Tất cả chỉ vì mạng mạch Phật pháp.

Thời mạt pháp, Phật giao Viêt Nam bị thế lực chísnh trị tấn công đanh phá, triệt hạ, xâm nhập lũng đoạn, điều khiển định hướng…Nhưng may phước nhà vẫn còn nên các bậc đại trượng phu dấn thân dựng lập, chấn tác để duy trì mạng mạch Phật pháp. Các ngàis Huyền Quang, Quảng Độ, Tuệ Sỹ là những sa môn vô úy, vô quái ngại, đầy đủ bản lãnh, trí tuệ và từ bi trên con đường hoằng hóa.

Ngày lễ đại tường Ôn, phương Tây vào mùa lễ cuối năm, cố quận mịt mù trong mưa bão, xả hồ - xả đập. Thiên tai và nhân họa cùng bủa vây người dân, nghiệp riêng và nghiệp chung đồng khốn khổ. Tuy vậy tứ chúng vẫn tổ chức tưởng niệm Ôn, ôn lại công hạnh hành trạng Ôn, kiên trì tu học, góp tịnh tài cứu trợ đồng bào. Từ chùa Phật Ân (Long Thành – Đồng Nai) cho đến các tự viện, đạo tràng khắp các châu lục đều cử hành lễ đại tường. Khói trầm thơm phảng phất trước di ảnh Ôn khiến lòng người nao nao thương nhớ Ôn, trân quý Ôn, năm vóc gieo sát đất.

Ôn đến và đi khỏi thế gian này như bạch hạc bay qua bầu trời. Hư không không lưu dấu, đáy nước chẳng đọng hình nhưng sao hình bóng Ôn vẫn in đậm trong tâm tứ chúng. Bia đá, tượng đồng có thể bị người đập phá nhưng bóng dáng Ôn thì chẳng có ai có thể xóa được. Kinh sách có thể đốt nhưng tư tưởng Ôn thì không có bất cứ thế lực nào có thể phế bỏ được. Không cần khẩus hiệu đao to búa lớn, chẳng dụng tuyên truyền mà Ôn sống mãi trong lòng Phật tử và những người Việt Nam chân chính. Hình bóng và hành trạng của Ôn rất hiện thực gần gũi trong đời nhưng cũng rất cao viễn như phương trời viễn mộng.

NGUYÊN TĂNG TUỆ , TIỂU ĐẠI THỪA LIỄU THÔNG, THƯỢNG PHẬT ĐẠO MẠNG MẠCH KHÂM THỪA, TÁC SƯ TỬ HỐNG, THỊ NHƯ LAI TRƯỞNG TỬ

CHỨNG XUẤT SỸ , NỘI NGOẠI ĐIỂN THẨM ĐẠT, HẠ QUỐC ĐỒ MỐI GIỀNG ỦY THÁC, VI ĐẠI TRƯỢNG PHU, HIỆN BỒ TÁT THIỆN TÀI


Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 1225

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/06/2024(Xem: 3749)
Cung trời cũ, Thầy ung dung dạo bước, Chốn Hồng Trần, xin tạm gác niềm thương. Như Huyền nhiệm, đến đi trong tự tại. Diệt tang bồng, soi ảnh độ Tây phương. Thầy lặng lẽ, như hành thâm đại nguyện. Pháp Đại Bi, mật trú dạ Huân tu. Trong thiền thất, Thầy an nhiên thiền tọa. Thở và cười, chốn Bát Nhã Chơn như.
24/06/2024(Xem: 3595)
Đúng vậy! Tôn Sư Trưởng lão Hòa Thượng thượng NHƯ hạ HUỆ, Nguyên Hội Chủ và Chứng Minh Đạo Sư GHPGVNTNHN UDL-TTL, Phương trượng Chùa Pháp Hoa SA. Với 70 năm tu tập, 60 phục vụ PGVNTN tại quê nhà và hải ngoại, đã giáo dục, đạo tạo nên nhiều Tăng Ni và Phật tử tài giỏi, biết hy sinh bản thân để cống hiến cho đạo Pháp và dân tộc cũng như hết lòng phụng sự chúng sanh. Nhờ tấm lòng từ bi, với đức tánh hài hòa, nhẫn nại, bao dung rồi thâm nhập Phật Pháp. Từ nền móng đó, Phật giáo đồ và Giáo hội ở Úc đã nhiều nhiệm kỳ cung thỉnh Ngài làm Hội Chủ, đã giáo dưỡng nên nhiều đệ tử biết rõ cuộc đời là vô thường, khổ, để không chạy theo sự sanh diệt của thế gian, lánh xa ngũ dục, tìm cách diệt khổ vươn lên và phụng sự đắc lực cho cuộc đời, tạo vô vàn Phước Đức.
22/06/2024(Xem: 3814)
Có người, khi thấy tôi thường nhắc nhở, ca ngợi Hoà Thượng Thích Như Điển, cho rằng, tôi…nịnh Hoà Thượng. Trời, nếu hiểu theo nghĩa “nịnh” thì mục đích để cầu danh hay lợi gì đó. Muốn có danh đâu phải dễ. Giữa hai hạt, kim cương và hòn sỏi đặt dưới bóng đèn sẽ soi rõ bản chất của nó, không thể nhờ chiếu sáng mà sỏi thành ra kim cương được. Con người cũng thế thôi, bản thân chẳng ra gì có đứng bên người tỏa hào quang thì vẫn thấy cái dở của người đó. Còn lợi thì càng buồn cười hơn. Người tu vốn vào cửa...không, Phật tử phải đắp cho...có. Ở đó mà cầu lợi.
01/06/2024(Xem: 6044)
Từ khi mở đất, khai hoang, lập ấp vùng đất mới, Doãn Quốc Công Nguyễn Hoàng (1558-1613) đã để ý đến việc lập chùa và lấy Phật giáo làm nơi nương tựa tinh thần cho việc lập quốc của dòng họ Nguyễn. Theo truyền thống đó, các chúa Nguyễn đều sùng thượng đạo Phật và mời các vị danh tăng Trung Quốc đến Đàng Trong hay vùng Nam Bộ ngày nay để hoằng hóa. Thế kỷ XVII ghi nhận có mặt của các Thiền sư Trung Hoa (Nguyễn Lang 2008):
31/05/2024(Xem: 5717)
Sa môn Endo Mitsunaga (Giáo thọ A-xà-lê Quang Vĩnh Viên Đạo, 光永圓道阿闍梨), sinh năm năm Ất Mão (1975) tại Kyoto. Năm Canh Ngọ (1990), thiếu niên tuổi 15, Ngài xuất gia thụ giới Sa di tại Myoo-do Hall ở Mudojidani, Mt. Hiei. Năm 1997 Ngài tốt nghiệp chuyên khoa Phật học tại Đại học Hanazono (花園大学).
28/05/2024(Xem: 7063)
Huế thường được mệnh danh là “Kinh đô Phật giáo” chẳng phải vì cảm hứng nghệ thuật hay cường điệu vẽ vời mà chính vì Huế có tới 332 ngôi chùa và niệm phật đường lớn nhỏ, trong đó có khoảng 100 ngôi cổ tự. Các ngôi chùa ngày nay hầu như đều được trùng tu nhưng vẫn giữ được nét kiến trúc cổ kính, căn bản mang đậm màu sắc văn hóa Phật giáo. Dẫu là dấu tích truyền thống của tôn giáo nhưng những ngôi chùa cổ của Huế vẫn tiềm tàng những giá trị tâm linh, văn hóa, lịch sử của vùng đất cố đô.
09/05/2024(Xem: 6196)
Nhị vị canh cánh bên nhau suốt cả cuộc đời. Nhị vị cùng tòng học với Ngài BÍCH LIÊN ( Bình Định) rồi nhị vị dấn thân ĐEM ĐẠO VÀO ĐỜI , mỗi vị mỗi phong cách, mỗi vị một vị thế khác nhau, nhưng mỗi vị đều trung trinh lý tưởng : Coi việc phụng sự Phật pháp như là việc Nhà ( Hoằng Pháp vi gia vụ ) Nhị vị trọn đời trung trinh “ Thượng cầu Phật Đạo, hạ hóa chúng sanh.
07/05/2024(Xem: 4736)
Hòa Thượng thế danh NGUYỄN HƯỚNG, pháp danh TÂM HOÀN tự GIẢI QUY, hiệu HUỆ LONG, thuộc dòng thiền phái Lâm Tế đời thứ 43. Hòa Thượng sinh ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tý (1924) trong một gia đình môn phong Nho giáo tại làng Phú Thành, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Giòng họ Nguyễn Phúc định cư dưới chân đồi Phốc Lốc tính đến đời Ngài đã trải qua 7 đời.Thân phụ là cụ ông Nguyễn Phúc Trì tự Tung pháp danh Không Đảnh, đích mẫu là cụ bà Trần Thị Kiện mất sớm, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Chiếu pháp danh Không Chiêu, ông bà đều là đệ tử quy y với Quốc Sư Phước Huệ trú trì Tổ Đình Thập Tháp Di Đà. Thân phụ Ngài là một Hương chức trong làng, một vị đồ Nho giỏi văn chương thi phú, tín ngưỡng tôn sùng Phật giáo, ông bà sống rất phúc đức nhân hậu với mọi người. Gia đình Hòa Thượng có mười anh em(5 anh em trai, 5 chị em gái) Ngài là con thứ tám. Người anh cả của Hòa Thượng tục danh Nguyễn Cao theo Pháp Sư Phổ Huệ vào Nam, sau đó ở lại định cư lập nghiệp tại Vĩnh Long, người anh th
13/04/2024(Xem: 3556)
Trang nghiêm Đức Trí châu viên Thậm thâm Bát Nhã bên triền KHỔ KHÔNG Hành vô hành hạnh quán thông LỜI VÀNG KINH PHẬT trãi dòng Chân Như Niết bàn tịnh cảnh vô dư Nhập Như lai tạng như NHƯ LAI về Nhân gian mát bóng Bồ Đề Ma ha Bát Nhã quy về diệu âm.
11/04/2024(Xem: 4848)
Thời gian chưa bao giờ ưu ái riêng dành cho người vô tâm, một khoảng lặng, một quán trọ dừng chân. Chiếc kim đồng hồ cứ hồn nhiên miệt mài quay mãi quay về phía bên phải. Thị nhật cứ dĩ quá, Thân mạng sinh linh,ngũ uẫn èo uột cứ xí thịnh, cứ tùy giảm, như cá trong ao, ngày từng ngày cạn nước.Tuy nhiên, các hành giả hành thiền thì họ lại có khả năng CHỈ và QUÁN Họ tinh ý vận dụng tâm thức , biết tìm cách, tạo cho mình một khoảng lặng, một điểm dừng, một nơi chốn yên bình thanh thản nào đó để chiêm nghiệm, để hồi tưởng,để niệm tưởng một chân nhân ; soi tâm mình vào một phiến gương trong trẻo... một nhân cách khoáng hoạt, một chân chân liễu giác những ảnh hình trác việt ấy, đạo phong họ đủ làm mô phạm cho bản tâm mình trên lộ trình tu tập.