Thành Kính Tưởng Niệm Pháp Sư Niên Trưởng Thích Giác Đức (1935-2025)

28/11/202506:54(Xem: 1657)
Thành Kính Tưởng Niệm Pháp Sư Niên Trưởng Thích Giác Đức (1935-2025)

Pháp Sư Giác Đức
THÀNH KÍNH T
ƯỞNG NIỆM ÂN SƯ

PHÁP SƯ NIÊN TRƯỞNG THÍCH GIÁC ĐỨC

(1935-2025)


Bài viết và giọng đọc
của đệ tử Diệu Danh


 

 

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật

Kính bạch Giác Linh Thầy,

Từ Tây Đức xa xôi con theo chân Chư vị Tôn Đức, thân bằng thuộc cùng Phật tử về đây để dự  lễ Trà Tỳ, tiễn đưa Thầy về Quê Hương Phật, trên nắp kim quan Thầy phủ đầy những cành hoa hồng đủ màu sắc của mà chư vị Tôn Đức Tăng Ni, quý Phật tử kính thương Thầy đã đặt trên đó với lòng tri ân và sự tiếc thương dâng cúng Thầy, con như ngửi được mùi thơm, như hương đức hạnh của Thầy, một vị Thầy đã suốt đời hiến dâng cho Dân Tộc và Đạo Pháp.

Nhìn chiếc kim quan Thầy được nâng lên, đẩy vào đài hỏa táng, bao nhiêu cành hồng dạt xuống, con nghe như Thầy bảo "cảm ơn các con thương yêu, tạm biệt các con, các con về đi, chịu khó tu học, Thầy chúc các con thân tâm thường an lạc, Thầy sẽ trở lại.." tim con như quặn thắt, con mới biết ra rằng từ nay vĩnh viễn con không còn được nghe tiếng Thầy nữa…Thầy ơi!

 

"Đêm khuya khoắt tiếng đồng hồ reo tíc tắc

Tiếng đều đều cắt vụn mãi thời gian.

Mỗi phút qua là mỗi phút thân tàn

Mỗi tíc tắc là cuộc đời ngắn lại"

 

bài thơ Thầy viết trong đêm trường sao mà thấm thía, nước mắt con lăn dài, con trống vắng quá! hụt hẫng quá! thời gian trôi qua thật nhanh, kỷ niệm lại về, cách đây hơn mười lăm năm, con nghe bác Phạm Ngọc Đảnh, giáo sư triết học kể về Thầy, Bác ước ao được gặp lại Thầy lần nữa, và có ý muốn con lên mạng giúp Bác tìm Thầy, tìm những bài pháp thoại mà ngày xưa khi còn ở Việt Nam Bác được nghe Thầy giảng. Con vâng lời Bác vào xem, nhìn được hình Thầy, trời ơi, sao mà giống người bác, chị của bố con quá! Con lần mò vào xem Thầy giảng bài pháp Đạo Pháp và Dân Tộc, Phát bồ đề tâm, sáu nẻo luân hồi, Vu Lan… đặc biệt  con được nghe phỏng vấn Thầy khi Đức Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang viên tịch, và những việc Thầy tranh đấu cho Quê Hương, quả tình con xúc động. Nơi nào thấy hình ảnh Thầy giảng pháp con đều email hỏi thăm nhưng không được trả lời. Thời gian đó thầy Thích Thiện Minh vừa ra tù được mấy năm sau hai mươi sáu năm lưu đày, con thưa chuyện, thầy Thiện Minh đã cho con số điện thoại của Thầy, con mừng lắm, vừa mừng vừa run, lưỡng lự không dám gọi Thầy vì con lo sợ Thầy không tiếp con, nhưng rồi như một động lực, con lại nhớ tới lời con hứa với bác Đảnh, con điện thoại thăm Thầy, nghe tiếng Thầy, con run run, rồi con thưa chuyện với Thầy, con nghe giọng nói Thầy yếu ớt, đứt quãng, con bật khóc, rồi con hát bài Quán Thế Âm để cầu nguyện cho Thầy. Thầy nói Thầy cảm động vì nghe được sự cầu nguyện chí thành của con lên Chư Phật cho Thầy, con yên tâm Thầy sống đến chín mươi tuổi, Thầy chưa chết đâu. Thầy bị hỏng mất một ống thanh quản sau lần mổ nặng, tập rồi cũng hết thôi. Tới giờ sự xúc cảm của con vẫn còn, và kính ngưỡng Thầy từ đó.

 Thầy rất gẫn gũi với chúng con, và cứ vài tuần  con lại điện thoại thăm Thầy. Thầy kể con nghe những câu chuyện bên quê nhà, khi Thầy còn bé, trên cánh đồng Thầy thường chạy đua với sư bà Đàm Lựu, Thầy chạy tắt qua cánh đồng để được thắng, Sư Bà ngồi không nói vì biết Thầy..ăn gian, Thầy xin lỗi, rồi chạy đua lại, lần này Thầy chạy chậm để Sư Bà thắng, Sư Bà cũng nhận ra được ngồi không nói…Sư Bà cốt tập cho Thầy vận động để có sức khỏe, con nghe Thầy kể mà mường tượng ra cảnh êm đềm làng quê miền Bắc mà cảm động, có điều gì đó rất gần gũi, rất thân thương. Thầy kể con nghe về quê Nam Định của Thầy, rồi Thanh Hóa, Bắc Ninh, những bài hát quan họ, những xóm làng, con đường của quê hương ôi thật đẹp. chuyện Thầy được chiếc xe đạp đầu đời, Thầy kể con nghe tình huynh đệ đồng sư với Ngài Quảng Độ. Thầy nói ngày 6.2.1943 là ngày Thầy xuống tóc xuất gia. Năm đó Thầy 8 tuổi cho tới ngày Sư Ông bị cộng sản giết thảm khốc với bao ngậm ngùi…

Thầy dạy con từng câu, từng nghĩa những gì con không hiểu, ơn Thầy biết bao!  Con còn nhớ vào tháng 11 năm 2011 con điện thoại thăm Thầy, có một người phật tử cho con biết Thầy bị bệnh nặng phải vào nằm phòng cứu cấp, con lo lắng biết dường nào, con vội viết thư đến tu viện Kim Sơn, xin thỉnh thầy Viện Trưởng (thầy Thích Tịnh Từ) và Tăng Đoàn nguyện cầu cho Thầy, không lâu  con được thư thầy Viện Trưởng từ tu viện viết tay gửi cho con  Phật lịch  25/05/2011 viết đã nhận được thư con và cảm ơn con  báo về tình trạng sức khỏe không khá của Thầy, thầy Viện Trưởng đã điện thoại thăm và được Thầy tiếp chuyện, Thầy Viện Trưởng kể con nghe rằng Thầy nói chuyện rõ ràng, sáng suốt, chỉ hơi thở và giọng nói hơi yếu. Thầy và thầy Viện Trưởng đã nói chuyện khá dài và thắm thiết từ đáy lòng và trái tim trọn vẹn, và thầy Viện Trưởng đã cầu chúc cho Thầy thọ hơn trăm tuổi để vui và họp mặt với đại gia đình tâm linh Phật Giáo Việt Nam từ trong đến ngoài nước, thầy Viện Trưởng cũng không quên nhắc nhở con tu tập và viết cho con hai bài thơ để quán chiếu

 

Diệu Danh Tuyết Mai

Diệu chơn tâm trong sáng vắng lặng

Danh bản lai vốn tự thường hằng

Tuyết bạch y, người đã tỉnh mộng

Mai vàng mỉm nhụy giữa đông miên

 

Diệu tánh muôn đời không đổi thay

Danh sắc một đóa lộ phơi bày

Tuyết trên đỉnh vắng đêm trăng sáng

Mai nở đón chào kiếp trần say

Sơn Cư

Đọc thư thầy Viện Trưởng con xúc động vô cùng, tấm lòng của người tu, tình người xuất gia cao đẹp biết là bao! con tự hứa với lòng sẽ gắng sống như những gì Thầy đã phó chúc. Bức thư đến nay con vẫn còn giữ để nhắc nhở con biết tri ân và báo đáp ân Tam Bảo.

 

Con còn nhớ vào tháng 6. 2012  con điện thoại thăm, Thầy đã xuất viện với bệnh án hồ sơ dầy đặc Thầy đọc cho con nghe con lo sợ và buồn bã xiết bao, bác sĩ cho Thầy đeo hai dây- một dây cấp cứu, và một dây chứa đựng hồ sơ bệnh án của Thầy, trong trường hợp nguy cấp sẽ theo đó để mà điều trị, nhưng với tâm hạnh bồ tát, dù bệnh nặng Thầy vẫn yên tâm vì sự tận tụy của bác sĩ nhà thương, vẫn một lòng miệt mài cho Phật Giáo, cho vận nước tối đen của dân tộc Việt Nam, Thầy đã đọc mấy bức thư của Hòa Thượng Quảng Độ gửi cho Tổng Thống, Quốc Hội và Đức Đạt Lai Lạt Ma mà giờ đây khi viết lại những dòng chữ này con chỉ còn nhớ được 2 điều:

1/ Nói về việc Phật Giáo Việt Nam đã tranh đấu cho nhân quyền và quyền tự do tín ngưỡng ngay từ ngày đầu tiên mà cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam

Việc mười hai thầy tự thiêu ở Cần Thơ chính HT Quảng Độ với danh nghĩa là Tổng Thư Ký của Giáo Hội để đi lập biên bản và điều tra.

2/ Hòa Thượng Quảng Độ là người đầu tiên nêu ra vấn đề dân chủ đa nguyên vào năm 2001, nhắc đến ảnh hưởng và trách nhiệm của Mỹ đối với Đông Nam Á và với nhân quyền, tự do, nhắc đến không cho dẹp đài VOA, đài tiếng nói Hoa Kỳ trong hoàn cảnh hiện tại là không có tự do, không có báo chí.

 

 Kính bạch Thầy, làm sao con quên được có lần má chồng con đau nặng, nằm hôn mê thiêm thiếp cả hai ngày, Chí và con điện thoại để xin Thầy cầu an cho Má chúng con, nói vài câu con thu băng để mang vô cho Bà,

Hôm đó Thầy bấm quẻ nói Má con sao mộc đức, bệnh gì cũng lành, nên tĩnh dưỡng niệm Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, niệm Đức Dược Sư, niệm Nam Mô Dược Vương Hội Thượng Phật Bồ Tát, Thầy giảng cho Má con về thân người khó gặp,

Nhân thân nan đắc,

 Phật Pháp nan văn,

Chúng Tăng nan ngộ

Vì vậy má con ráng kéo dài mạng sống để niệm Phật làm hành trang đi vãng sanh, đừng vội vàng, hãy theo gương HT Quảng Độ 85 tuổi làm Tăng Thống vẫn miệt mài. Thầy kể chuyện Đức Phật dạy làm người khó được, khó như con rùa nghìn năm mới ngóc đầu lên mặt nước được một lần, sau lại chui dầu vào mảnh gỗ nổi lên mặt biển rất khó.

Chúng con đem vào cho Má chúng con nghe, lúc đó Bà vẫn nằm im thiêm thiếp, lạ thay khoảng chốc sau Bà tỉnh lại hỏi: "Thầy Giác Đức đấy à?", chúng con mừng rỡ, phép mầu Bà đã hồi sinh, rồi Má chúng con giọng yếu đuối nhớ lại: Thầy ở chùa Giác Minh gần trường Ánh Sáng ba thành lập, Má hay dẫn Chí đi nghe Thầy giảng ở Viện Hóa Đạo, chuà Xá Lợi. Bà hưởng thọ 92 tuổi trong thời gian covid, Bà ra đi một mình như thường ước nguyện, không người tới tiễn đưa, chỉ có các con và cháu.

 

Có lần con gọi điện thoại qua thăm Thầy, con kể chuyện thầy Phước Đường kể con nghe về Thầy. Thầy Phước Đường nói Thầy rất giỏi, làm được đủ thứ như bàn tay của đức Quán Thế Âm vậy, thầy Phước Đường làm thư ký cho hãng xì dầu mà trước kia Thầy đã chế tạo ra để giúp đỡ học chúng, kể những ngày ở Viện Phật Học Hải Đức Nha Trang, Thầy vui vẻ reo: thầy Phước Đường đó hả con? Phước Đường lành lắm, Thầy nói gì thầy ấy cũng dạ, rất ít nói, anh là thầy Thiện Châu, Phước Đường là người tu chân chánh, chỉ một lòng với Tam Bảo, phát ra sự từ bi ngay trong nội tâm, Thầy xem như người em. Và rồi con đã thưa với thầy Phước Đường điện thoại kính vấn an Thầy, lúc đó con rất vui, vì con thấy Thầy và thầy Phước Đường đều vui.

 

Rồi những ngày tháng kế tiếp, dù thân bệnh nói năng khó khăn, Thầy vẫn giảng dạy cho con khi thì giáo lý Phật Đà, khi thì cách cư xử với đời phải lấy lòng chân thật, cần nhất tâm bồ đề, nhớ ơn tất cả những gì con đang có ở thế gian, có khi Thầy kể những câu chuyện đời làm con cười, Thầy xem con như đứa con nhỏ, mà quả thật Thầy ơi, học vấn con không cao, kinh nghiệm đời con không từng trải, giáo lý Phật con cũng lơ mơ, con chỉ có một tấm lòng, luôn muốn cho mọi người vui không gặp khổ nạn mà thôi. Con tạ ân Thầy dù chỉ qua điện thoại mà Thầy bao con biết bao tình thương, những câu chuyện Thầy kể qua pháp thoại, cứu con vượn, con chó đã làm con xúc động biết bao.

 

Thầy nhắc đến đệ Tam Tăng Thống Thích Đôn Hậu, đến đệ tử của Ngài là thầy Trí Lực, con gửi cuốn Bao Nỗi Tang Thương cho Thầy đọc, và thầy Trí Lực cũng đã điện thoại thăm viếng Thầy với lòng tôn kính bấc Sư Trưởng.

 

Năm 2016, khi Đức Đạt Lai Lạt Ma qua Điều Ngự Thầy đã nhắn với nhà văn Việt Nữ muốn gặp con, đây cũng là lần đầu tiên con qua Mỹ, con được đảnh lễ Thầy, Thầy và thầy Chánh Lạc kể lại chuyện ở Việt Nam năm 1963, lúc đó con còn nhỏ và chưa cắp sách đến trường, chúng con ngồi nghe quý Thầy kể chuyện, có cô Việt Nữ, anh chị Tịnh Hạnh là người đã lái xe chở chúng con đến gặp Thầy, hạnh phúc biết bao, có Thầy, có các anh chị đã từng nghe Thầy thuyết pháp như mái ấm gia đình tâm linh nhỏ. Các anh chị đều kể về những bài pháp thoại Thầy giảng mà họ tâm đắc, được thấm nhuần.

Qua ngày sau, khi đến Điều Ngự để gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma, được một ngày ngồi bên cạnh Thầy, có cả thầy Trí Minh từ Na Uy tới, con chấp tay chào, thầy Trí Minh cười nói duyên ở khắp nơi, ngõ hẹp, con vui làm sao, Thầy đã tạo cho con duyên lành này, được đảnh lễ Đức Đạt Lai Lạt Ma. Hôm đó trong chương trình sau Đức Đạt Lai Lạt Ma Thầy sẽ giảng về lòng từ bi, Thầy bảo con xách cặp cho Thầy, sau buổi lễ Thầy xuống khỏi khán đài thì chiếc xe lăn của Thầy không biết ai đã lấy nhầm, hai người phật tử phải dìu Thầy đi lúc đó con thật bàng hoàng, con đã đến khán đài để nhờ thầy Trí Minh lấy Micro hỏi xem có ai lấy nhầm xe của Pháp Sư thì xin giao lại, trời hôm đó nắng gắt, Phật tử phải lấy xe đón Thầy về nghỉ ngơi, con chạy lẽo đẽo theo sau, Thầy quay lại thấy bảo: "đưa cặp đây cho Thầy, con phải quay vào ngay, Thầy không muốn thấy con nữa, nắng gắt như thế này"! con vâng lời quay về nhưng tâm không yên, nước mắt con chảy dài, con cảm động!.

Đó là lần duy nhất con được bên Thầy, để nhận được lòng bao dung, sự từ bi rộng lớn của Thầy, không phải chỉ cho con mà cho tất cả mọi người. Phật tử thấy Thầy đều chen nhau thăm hỏi, đảnh lễ Thầy.

Vài hôm sau khi Thầy trở về lại Boston, Thầy gọi điện thoại cho cô Việt Nữ để thăm hỏi chúng con, Thầy nói hôm ra phi trường Thầy ngồi đợi chúng con nhưng không thấy, khi nghe cô Việt Nữ kể lại vì say nắng con bị làm mệt sau khi được những phật tử cho ngồi chỗ mát, được uống nước chanh, con từ từ tỉnh lại và được bạn Chí đón con về nhà nghỉ ngơi. Con thật tiếc nuối và ân hận đến giờ. Thầy là vậy, thân bệnh nhưng luôn nghĩ đến các con, đến mọi người, lòng từ thật bao la. Thầy ơi, con cúi đầu đảnh lễ.

 

Sau ngày đó, mỗi dịp Tết Tây, Tết Ta, cứ vài tuần con lại thăm Thầy, có những khi Thầy vắng nhà vì Phật sự, vì phải vào nhà thương con buồn, con lo lắm, con lại viết thư, con gửi sách Nho Giáo của cụ TTK, Thầy gọi con và nói Thầy cảm động biết bao! Thầy hỏi sao con biết?...

Cũng  có lần con gọi qua con nghe tiếng chó sủa, Thầy cười bảo Thầy nuôi mười hai con chó, vì cô Dung thích, chúng ngoan lắm, Thầy tụng kinh chúng ngồi bên cạnh.

 

Cách đây hai năm Thầy gọi con và nói "con ơi Thầy nói chuyện với con đây là lần cuối, vì Thầy yếu lắm rồi", con im lặng rồi bật khóc. Thầy lại bảo: "con ngoan, đừng khóc nữa, Thầy nói thế chứ Thầy còn nói với con vài lần nữa mà rồi Thầy mới đi.". Từ đó, con lo sợ từng ngày, có vài lần con gọi qua nhưng chỉ nghe tiếng điện thoại reo không. Con hỏi anh Trần Trung Đạo thì Anh nói Thầy vẫn khỏe, con mừng. Tháng 5 rồi Anh TTĐ qua Đức thuyết trình về năm mươi năm miền Nam mất nước, con vui mừng và xin Anh Vu Lan nếu Anh về thăm Thầy thì cho con kính lời thăm và chụp hình cho con xem. Vu Lan qua con vẫn không thấy, con linh cảm một ngày…

 

Rồi việc gì đến cũng đến ngày, 4.11.2025 con nhận được phó bạch do anh Trần Trung Đạo gửi qua với dòng tin nhắn: "Tin tức tang lễ Thầy Giác Đức. Báo các em biết".

Đầu óc con loạn xạ, con chỉ khóc, mấy ngày nhìn vào tờ phó bạch, con như nhìn vào khoảng không, con không đọc được, con không muốn, không tin là sự thật đã đến Thầy ơi!

 Kính bạch Thầy, con đã vĩnh viễn không bao giờ thấy hình ảnh Thầy nữa, ước vọng con được đến tận nơi để đảnh lễ tiễn đưa Thầy, cũng không bao giờ được.

phap su giac duc-1

 phap su giac duc-4
phap su giac duc-2phap su giac duc-3

           Trong mấy ngày qua con xem tang lễ Thầy, con thấy được hình ảnh gia đình Thầy, thấy được cô Dung, thấy được hình ảnh Tỳ Kheo Bhikkhu Bodhi, người đệ tử đầu tiên mà Thầy thường nhắc nhở trong những lần Thầy trò chuyện trò, trong pháp thoại Thầy ban với pháp danh Giác Tuệ Thầy cho con cảm động vô vàn, một duyên kỳ lạ Ngài đã tới thăm Thầy vào ngày 30.8.2025, và ở với Thầy tuần cuối, con xúc động nhiều, con biết giác linh Thầy rất vui, con thầm cảm ơn và đảnh lễ vị Hòa Thượng, Học giả Bhikku Bodhi, Ngài có gương mặt thật hiền lành, nhìn Ngài trong tang lễ, Ngài ngó quanh quẩn đôi khi con có cảm giác như Ngài đang nói chuyện cùng Thầy, Con cúi đầu đảnh lễ HT tỏ lòng biết ơn

            Thầy vẫn nằm yên ở đó, thanh thản tiếng tụng của Chư Tôn Thiền Đức hướng dẫn chúng con Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát vang vang trong yên tĩnh, trầm mặc bên cạnh Giác Linh Thầy như nhắc nhở chúng con gương hạnh của Ngài, vị Bồ Tát Đẳng Giác có năng lực hiện thân khắp mười phương pháp giới, tùy mong cầu của chúng sanh mà hiện thân hóa độ. Ngài đại diện cho bình đẳng tánh trí, trí huệ thấu hiểu cái nhất thể của sự đồng nhất và khác biệt, như tán dương công hạnh của Thầy, nhìn lên bức hoành với hàng chữ Tịch diệt- phi tịch diệt nằm giữa những bông hoa đủ màu sắc, tâm con như bình lại, Thầy vẫn còn mãi trong chúng con, trong không gian, trong thế giới này, chúng con nguyện sống đời với hạnh nguyện của Đức Phổ Hiền Bồ Tát trong từng phút giây:

Nhất giả lễ kính Chư Phật

Nhị già xưng tán Như Lai

Tam giả quảng tu cúng dường

Tứ giả sám hối nghiệp chướng

Ngũ giả tùy hỉ công đức

Lục giả thỉnh chuyển Pháp Luân

Thất giả thỉnh Phật Trụ thế

Bát giả thường tùy Phật học

Cửu giả hằng thuận chúng sanh

Thập giả Phổ giai hồi hướng 

 

Sáng nay thất thứ ba, sáng sớm con ra đường, trời vẫn còn sương mù, đóng giá, con đi dưới ánh đèn vàng chiếu vào những hàng cây đã khô lá long lanh, thật đẹp. Những chiếc lá vàng cuối cùng rơi xuống con đường, có những chiếc lá thấm hòa cùng nước như ôm vào lòng đất thủ thỉ rằng "cảm ơn đất đã sanh ta ra đời, rồi nay lại ấp ủ ta trở về", có những chiếc là khô ráo hòa vào nhau nghe xào xạc tạo thành âm thanh hòa điệu với tiếng gọi của thiên nhiên, bức hoành trong tang lễ Thầy lại hiện ra trong tâm trí con "Tạc Dạ Nhất Chi Mai" câu cuối trong bài thơ Cáo Tất Thị Chúng  của thiền sư Mãn Giác để nói lên công hạnh của Thầy một vị Thầy có ý chí kiên cường, dù trải qua bao nghịch cảnh, bao nhiêu chướng ngại Thầy vẫn sống lạc quan tự tại trước sự thị phi và vô thường của cuộc đời, Thầy có một sức sống mãnh liệt dù trải qua những nghịch cảnh đen tối nhất, qua bao năm thân bệnh Thầy vẫn hoằng pháp, vẫn giảng dạy, vẫn tranh đấu đòi quyền lợi cho người tị nạn Việt Nam ở ngoài nước, trong nước Thầy vẫn âm thầm đòi hỏi nhân quyền, giúp đồng bào mà ít người biết đến. Một cành mai trắng vươn mình nở rộ sân trước trong thời tiết đông lạnh giá.

Trong phút giây này, con cúi đầu đảnh lễ Giác Linh Thầy, đảnh lễ tinh thần Bồ Tát Đạo, luôn lắng nghe và cứu khổ những nơi cần cứu, tinh thần bất khuất của Thầy, sống vì lợi ích cho chúng sanh, Thầy đã gieo hạt giống bồ đề cho hàng Phật tử chúng con, qua những bài pháp thoại "Phát tâm Bồ Đề", sự tri ân và báo ân. Thầy đã hóa thân vào đời, vào đất nước Việt Nam đã trải qua bao nhiêu biến đổi của dòng lịch sử, nhưng tâm Thầy như Kim cang, vững như thạch trụ, vẫn miệt mài cho thế hệ ngày mai.. lòng từ bi vô lượng.

Thầy sống mãi trong chúng con

Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát

Kính bái

Đệ tử Diệu Danh

 

 

 

 

 

 

 phap su giac duc-1

Kính mời xem tiếp

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/07/2010(Xem: 9726)
Kính bạch Sư Tổ! Chúng con đang tập tiếp xúc với Người qua hình ảnh một bậc thầy già chốn núi rừng Dương Xuân. Một túp liều tranh, một bà mẹ già và với ba người đệ tử. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhất của Sư Tổ. Người có thời gian chăm sóc mẹ già và trao truyền những hoa trái tu học cho những người học trò yêu quý. Xuất thân từ làng Trung Kiên – một vùng đất Phật giáo ở Quảng Trị, Sư Tổ đã đến chùa Thiên Thọ (Báo Quốc) núi Hàm Long – Huế, để xuất gia học đạo với Thiền sư Phổ Tịnh, lúc đó Người chỉ mới lên bảy tuổi. Đến năm 30 tuổi, nhận thấy nơi Sư Tổ có chí khí của một bậc Xuất trần nên Sư Tổ được Bổn sư phú pháp truyền đăng với bài kệ: Nhất Định chiếu quang minh Hư không nguyệt mãn viên Tổ tổ truyền phú chúc Đạo Minh kế Tánh Thiên.
04/07/2010(Xem: 13577)
-Người đi tiên phong và nỗ lực không mệt mỏi cho sự nghiệp phát triển trí tuệ, từ bi và hòa bình- -Nhà lãnh đạo toàn cầu trong phong trào vì hòa bình, nhân quyền và sức khỏe cộng đồng-
14/06/2010(Xem: 8251)
Hòa Thượng Thích Bích Nguyên là một trong những bậc cao Tăng thạc đức của Phật giáo Lâm Đồng. Ngài họ Nguyễn, húy là Tùng, sinh năm 1898 tại làng Duy Hòa, xã Triệu Hòa, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Thuở nhỏ, bẩm chất thông minh, đĩnh ngộ. Thời tráng niên, lập nghiệp ở Lào, Hòa Thượng nhân đọc báo Từ Bi Âm mà ngộ đạo, thấy rõ cuộc đời vô thường, nuôi chí xuất gia. Đến năm 29 tuổi (1927), Hòa Thượng mới có đủ nhân duyên đầu sư thọ giáo với Hòa Thượng PHƯỚC HUỆ, Trú trì chùa Hải Đức, Huế và đắc giới Sa di năm 1934. Năm 1936, ngài thọ Cụ túc giới với pháp hiệu BÍCH NGUYÊN, rồi theo học ở các lớp Phật học tại các Phật học viện Hải Đức, Bảo Quốc và Ấn Quang.
15/05/2010(Xem: 7833)
Thiền sư Khánh Hòa sinh năm 1877 tại làng Phú Lễ tỉnh bến Tre, xuất gia năm 19 tuổi tại chùa Khải Tường. Chí nguyện chấn hưng Phật giáo của ông phát sinh vào khoảng năm ông được bốn mươi tuổi. Ông du hành khắp các tổ đình và Nam Kỳ để gây ý thức chấn hưng và kêu gọi sự hợp tác của các bậc tôn túc.
19/03/2010(Xem: 9963)
Một cặp kính trắng với sợi dây vòng ra sau cổ, năm ba con khỉ nhảy tung tăng trên vai, trên đầu, tóc tai rối rắm, áo quần cái dài, cái ngắn, kiểu đàn ông, đàn bà, đầy màu sắc sặc sỡ …đây là dáng người anh Bùi Giáng chúng ta thường gặp trên những nẽo đường Sài Gòn năm 1975 … Sau năm 1975 , anh Bùi Giáng về ở chung với chúng tôi trong nội xá viện Đại học Vạn Hạnh cũ (222 Trương Minh Giảng, nay là Lê Văn Sĩ). Vào thời điểm này, Đại học Vạn Hạnh không còn hoạt động, nên nội xá chỉ còn một số ít người ở lại với Hòa thượng Viện trưởng Thích Minh Châu. Chúng tôi quản lý chung, chú Chơn Thuần đi chợ và thị giả cho Hòa thượng Viện trưởng, anh Trần Châu phụ trách an ninh, anh Bùi Giáng thì nhận nhiệm vụ đi mua lương thực.
10/03/2010(Xem: 8630)
Bản thân tôi (Tín Nghĩa), rất ít có dịp thân cận với Ôn Già Lam. Điều dễ hiểu, vì tôi không xuất thân từ Phật Học Viện. Vả lại, mỗi lần Ôn về Huế (Bảo Quốc), thường vào dịp đầu xuân, thì đa phần Ôn hay đàm luận Phật sự với quý Ôn lớn như Ôn Linh Mụ, Ôn Trúc Lâm, Ôn Linh Quang, Ôn Từ Đàm và Ôn Bảo Quốc, . . . Đầu năm, Ôn thường hay nghe Đại luật (tức là dạy luật Tứ phần) cho hai chúng Tỳ kheo và Tỳ kheo ni, thì tôi đạp xe ra học rồi về lại chùa. Vả lại, bổn phận của tôi ở chúng Trúc Lâm cũng tương đối bề bộn. Tuy thế, chính tôi lại có với Ôn ba kỷ niệm khó quên.
10/03/2010(Xem: 11924)
Bây giờ là những ngày cuối năm âm lịch. Thiên hạ cùng viết về Xuân, Tết. Tôi muốn viết về Ôn Già Lam và Tu viện Quảng Hương Già Lam. Ôn Già Lam là cách gọi tôn kính của những môn đệ và phật-tử hướng về Đại lão Hòa thượng Thích Trí Thủ, vị viện chủ sáng lập tu viện. Trong tu viện, tăng chúng khi nói về ngài thì chỉ dùng chữ “Ôn” một cách gần gũi. Còn tu viện Quảng Hương Già Lam thì vẫn thường được gọi với cái tên thật ngắn: chùa Già Lam.
10/03/2010(Xem: 9342)
Ôn Già Lam, chỉ ba tiếng ấy thôi cũng đủ làm ấm lòng bao lớp Tăng sinh của các Phật Học Viện: Báo Quốc - Huế, Phổ Đà - Đà Nẵng, Hải Đức - Nha Trang, Già Lam - Sài Gòn. Ba tiếng nói ấy như trái tim của Mẹ ấp ủ đàn con qua suốt quãng đời dãi dầu mưa nắng. Ôn Già Lam, người đã hy sinh suốt đời mình để phụng sự cho Phật pháp, đào tạo Tăng tài qua nhiều thế hệ. Ôn đã khai phóng tinh thần thế học cho Tăng sinh các Phật Học Viện.
10/03/2010(Xem: 15650)
Sau năm 75 các Phật Học Viện đều đóng cửa. Các tăng sinh tại các Phật Học Viện đều trở về chùa cũ của Thầy Tổ để sinh sống và tu học. Thật tế, tu thì có mà học thì hầu như không. Có chăng là Thầy dạy đệ tử trong chùa. Những chùa có ruộng đất thì thầy trò tự túc canh tác để sinh sống. Sinh hoạt giáo dục và đào tạo tăng ni trẻ đã không còn.