Từ Thông chứng nghiệm……!

21/10/202517:45(Xem: 1915)
Từ Thông chứng nghiệm……!

ht tu thong-5ht tu thong-4

ht tu thong-8ht tu thong-7ht tu thong-5

Từ Thông chứng nghiệm……!


Trăng ngàn sáng giữa nhân gian.
Thầy về ban Ngọc, lời vàng kinh thi.
Đại thừa giáo pháp từ bi,
Độ cho Tăng chúng, uy nghi hành trì.


Tham thiền hành hoá đường đi,
Liễu liễu tịnh cốc, thầm thì vầng thơ.
Sáng trong tiếng nhạc bến bờ,
Bay ngàn đỉnh núi, nằm chờ trăng lên.


Giữa ngàn Như Huyễn bình yên,
Giữa ngàn bỉnh pháp, gậy thiền lắng nghe.
Giữa ngàn sóng gió lối về,
Giữa ngàn Tăng thỉnh, diệt mê lăng già.


Phá mê khai ngộ thiên hà,
Lời vàng thước Ngọc, chiều tà khói hương.
Pháp hoa trực chỉ soi đường,
Lăng nghiêm trực chỉ, tình thương bên thầy.


Chức Hiệu trưởng bấy lâu nay,
Thầy xem như mộng, trăng say qua bờ.
Độ người chứng ngộ thiền cơ,
Thầy buông thế sự, nhặt tờ tâm kinh.


Thầy xem vạn cảnh nhân sinh,
Hoà tang sắc tướng, tâm linh nghĩa huyền.
Thầy xem vạn cảnh là duyên,
Chẳng chuyên cúng bạch, chẳng thiền vi tâm.


Thầy xem ứng mộng sắc thân,
Trăng ngàn ngón chỉ, trực tầm Huân tu.
Như huyễn danh trứ thiền sư,
Từ Thông bút hiệu, đạo từ rãi bang.


Thầy trao lời pháp Ngọc vàng,
Quý thầy nên học, nghiêm trang thân mình.
Ấy là giới luật lời kinh,
Ấy là tu chứng, lộ trình liễu nhiên.


Thầy trao ánh đuốc đạo thiên,
Cho đàn hậu tấn, gối nghiên tu trì.
Giờ này nguyện bỏ ra đi,
Về trong cảnh Phật, nguồn thi tâm thầy.


Sắc thân mộng tưởng rả thay,
Pháp thân diệu dụng, thân này hợp tang.
Sống là chết, vọng cười khang,
Chết là chuyển cảnh, thức ngàn duyên xưa.


Chẳng chấp điếu, chẳng trình thưa,
Chẳng thời kinh tụng, tâm vừa truyền trao.
Chẳng cúng vọng, chẳng quyền cao,
Chẳng lời tiểu sử, trăng sao soi đường.


Bây giờ lời pháp ngộ thường,
Thầy lưu hậu thế, tấm gương liễu thiền.
Trú ngôi không trú nhân duyên.
Từ Thông chứng nghiệm, chứng thiền viên dung.


Hạnh ngộ kỳ duyên:
Bạch giác linh Ôn, chúng con là Tỳ Kheo Thích Minh Thế, trú xứ tại chùa Phước Thành, Cố Đô Huế, năm 2007 chúng con vào vùng đất Sài thành, để học và tham vấn hành đạo, chúng con có nhân duyên may mắn trú ở tại chùa Vĩnh nghiêm một vài tuần, được các huynh đệ đồng tu chỉ giáo, có nhân duyên đảnh lễ và tham vấn Ôn, tìm đọc các tác phẩm của Ôn biên soạn và dịch thuật, đọc những vần thơ thiền ngữ mà Ôn lưu lại cho hậu học một giá trị văn chương, từ học thuật tới kinh điển dịch truyền đúng nghĩa lý.
Lời Ôn giảng dạy cho các lớp Thầy đi qua, điều là dụng nghĩa Tánh - Tướng, khó nghe nhưng thâm sâu, khó hiểu nhưng tu chứng, khó thông nhưng kiên định thì dụng pháp âm vang, khó độ nhưng diệt mê khai ngộ.
Lời Ôn dạy, từ Pháp hoa, Lăng nghiêm, Lăng già, Duy thức, Bát Nhã, đều là trực chỉ kiến tánh, chúng con được dự thính và học từ Ôn rất nhiều.
Nhớ năm 2016, chúng con có nhân duyên về tại Liễu Liễu Đường, tham vấn và đảnh lễ được Ôn chỉ giáo cho Pháp Hoa và Lăng già, Duy thức, lời Ôn văng vẳng bên tai chúng con, chúng con nhớ lời Ôn dạy rằng:
“ Người càng tu, thì nhớ càng buông tham bao nhiêu thì tự tại bấy nhiêu, nhưng nhớ đừng chạm vào vô ngã, mà biến nó thành trực chỉ cõi tâm.
Người càng đoạn chấp, thì nhớ càng cố gắng rỗng không, thì mới gột rửa sạch tâm do quán chiếu Lăng Già dung thông.
Người tu pháp hoa kinh, nên thấy rõ về tuệ giác, phá mê khai ngộ, trong từng nội tại mới liễu tri tất cả các tri Kiến Phật …!”
Chúng con đón nhận pháp ngữ của Ôn và luôn luôn thực hiện trong pháp âm chánh niệm giữ thế gian pháp.
Rồi Ôn đọc cho chúng con nghe về ngón tay chỉ trăng, ẩn dụ các công phu tu tập mà Ôn hành trì.

Ôn nhìn con và bảo, Thầy Minh Thế, mới 29 tuổi, tuổi còn trẻ nên đi tham vấn các Bậc tôn túc, để dung thông những châu báu chánh pháp.
Ôn nói xong và trao cho chúng con một bài thi kệ rằng:

“ Trực chỉ kiến tánh Phật
Rỗng lặng pháp nhiên đăng
Minh thế hằng ứng nghiệm
Trí toả ngát hương trăng.


Từ Thông hành vô ngã,
Như huyễn hiệu vị tha
Trăng ngàn xưa ứng hạnh
Dứt khoát hạnh ta bà…! “

Và đây cũng là gặp Ôn lần cuối để chúng con được Vân du hành hoá xứ Bắc, đồng thời lấy thi kệ làm sở nguyện nhân duyên…!
Hôm nay, chúng con đồng nguyện hướng về giác linh đài, nơi tôn trí nhục thân của Ôn, nguyện giác linh Ôn, tùy duyên thuận xã, Vân du hành trình về bảo sở chân như.
Kính bạch giác linh Ôn, chúng con đang đi Tứ Động Tâm, nhận được tin Ôn thuận xã báo thân viên mãn, thì chính là lúc chúng con tới Câu Thi Na – Nơi Đức Phập nhập Niết Bàn. Chúng con đã chiêm bái và đảnh lễ tôn tượng kim thân đức Thế Tôn nhập Vô Dư Y Niết Bàn tại bảo tháp Niết Bàn và các thánh tích trong thánh địa này. Để vọng hướng giác linh Ôn Cao Đăng Tịch Giới, đồng tâm vọng hướng Chiêm bái và đảnh lễ Tháp Trà Tỳ – Nơi hỏa thiêu kim thân của đức Thế Tôn tại Kushinagar.
Nhân duyên ấy đã giúp chúng con kiên trì trong chánh pháp, như những lời mà Ôn từng trao gởi bằng sự tu tập cho các hậu duệ như chúng con noi theo…!
Kính bài biệt Giác Linh Ôn…!


Ngày 18-10- 2025. Lúc 9giờ 30 phút sáng tại Xứ Ấn Độ thuộc Kushinagar….!

Tk: Thích Minh Thế
Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/12/2014(Xem: 13387)
Video: Lễ tưởng niệm Cố HT Thích Tâm Thanh
12/11/2014(Xem: 12143)
Một thi hài được chôn dưới đất đã 30 năm, nhưng khi được khai quật và di dời thì hài cốt cũng như bộ cà sa và y phục vẫn còn nguyên vẹn. Những khớp xương chân tay vẫn dính chặt nhau và cứng như đá, đặc biệt hộp sọ có màu vàng. Câu chuyện đầy bí ẩn này xuất hiện tại chùa Long Bửu (thôn Xuân Vinh, xã Hành Phước, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi), khi chùa khai quật di cốt cố Đại lão Hòa thượng Thích Minh Đức để đặt vào bảo tháp.
07/11/2014(Xem: 41241)
Nói "Chùa Khánh Anh sau 30 năm" có nghĩa là đã bắt đầu bước sang năm thứ 30+1... Thật vậy, chùa Khánh Anh bắt đầu sinh hoạt từ Lễ Phật Đản 1974, tức 1 năm trước biến cố lịch sử 30/4/1975. Tại sao lại không phải là sau ngày 30/4/75 như nhiều nơi khác, và nhiều chùa khác ở hải ngoại? Thưa quý vị và bà con cô bác, đó mới là có chuyện để kể lại. Và cái đoạn này có nhiều chuyện để kể lắm. Nghĩa là nguyên nhân do đâu, và từ bao giờ đưa đến việc thành lập chùa Khánh Anh trước năm 75 và sinh hoạt cho đến ngày hôm nay?
03/11/2014(Xem: 75002)
Theo truyền thống Tăng Già, hằng năm chư Tăng Ni đều tụ về nhóm họp một nơi kiết giới an cư, hầu thúc liễm thân tâm, trau dồi Giới, Định, Tuệ là ba môn vô lậu học, tăng trưởng đạo lực sau những tháng ngày bận rộn hoằng pháp lợi sanh. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Úc Đại Lợi –Tân Tây Lan được thành lập năm 1999, mỗi năm đều qui tụ tại một trú xứ được chọn trước để an cư tu tập trong mười ngày. Năm nay Đạo tràng Tu Viện Quảng Đức chúng con được Hội Đồng Điều Hành và Tổng Vụ Tăng Sự giao phó trách nhiệm tổ chức Mùa An Cư lần thứ 15 của Giáo Hội. Đạo Tràng chúng con đã thỉnh ý Chư Tôn Giáo Phẩm trong Giáo Hội và quý Ngài đã đồng thuận tổ chức kỳ An Cư Kiết Đông năm nay tại Tu Viện Quảng Đức theo ngày giờ như sau:
01/11/2014(Xem: 8123)
Hòa Thượng Thích Tâm Hướng (1923 – 1997) Hoà thượng Tâm Hướng Pháp danh Nguyên Nguyện, hiệu Huyền Luận, thế danh Dương Xuân Đệ, đời thứ 44 dòng thiền Lâm Tế. Ngài sinh ngày 24 tháng 11 năm Quý Hợi (31/12/1923), tại làng Hương Cần, xã Hương Toàn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế trong một gia đình thâm tín Tam Bảo. Thân phụ là cụ Dương Xuân Ngô và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Đặng.
01/10/2014(Xem: 17586)
Nhân Vật Phật Giáo Thế Giới, do TT Thích Nguyên Tạng biên soạn từ 1990
01/10/2014(Xem: 10432)
Pháp danh : Trừng Thành Pháp tự : Chí Thông, Pháp hiệu : Thích Giác Tiên. Thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 42 Thế danh : Ngài họ Nguyễn Duy húy là Quyển. Thọ sanh năm Canh thìn, niên hiệu Tự Đức đời thứ 33 (1879). Chánh quán làng Giạ Lệ Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1883, lên bốn tuổi thì song thân đều mất. Ngài được ông bà bác đồng tộc đem về nuôi dưỡng. Nhờ bẩm chất thông minh nên thân thuộc cho theo Nho học một thời gian. Nhận thấy giáo lý Phật đà mới là con đường hướng đến cảnh giải thoát ; từ đó, ngài xin với thân thuộc xuất gia đầu Phật. Năm 1890, được 11 tuổi, ngài cầu thọ giáo với tổ Tâm Tịnh.
01/10/2014(Xem: 10544)
Phật Giáo Việt Nam thời cận đại đã viết lên trang lịch sử bằng máu, xương của Chư Tôn Đức Tăng Ni và Phật tử. Dòng lịch sử ấy đã nêu cao tấm gương hy sinh bất khuất trước những đàn áp, bạo lực, súng đạn, nhà tù và lựu đạn. Phải chăng đây là một chặng đường lịch sử oai hùng mà Phật Giáo Việt Nam đã biểu tỏ tinh thần Đại hùng, Đại lực, Đại Từ Bi để vực dậy một nền văn hóa đã bị sụp đổ bởi một chế độ tha hóa, ngoại lai xâm nhập vào quê hương Việt Nam.
01/10/2014(Xem: 12379)
Trên dòng lịch sử Phật giáo Việt Nam thời cận đại của những thập niên 30-40 có bậc Tôn túc của Ni giới xuất hiện, đồng hành với chư Tăng để xiển dương Phật pháp, đào tạo Tăng tài, xây dựng tự viện, giữ gìn giềng mối đạo pháp được bền vững. Bậc Tôn túc của Ni giới ấy là SB Diệu Không, người đã hy hiến cả đời mình cho đời lẫn đạo, SB đã lưu lại cho hậu thế một hành trạng sáng ngời cho đàn hậu học noi gương.
09/09/2014(Xem: 16906)
Hòa Thượng Thích Giác Thông, tục danh Đổ Văn Bé, sinh ngày 18 tháng 2 năm 1939 tại Mỹ Hòa Hưng, Huyện Châu Thành, An Giang, Long Xuyên. Trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân Phụ là Cụ Ông Đổ Nhựt Thăng, Thân Mẫu là Cụ Bà Nguyễn Thị Khiên, Hòa Thuợng là người anh cả trong số 6 anh em ( 3 trai, 3 gái ), được nuôi dưỡng trong một gia đình nông dân hiền lành, có truyền thống đạo đức, nên từ nhỏ Hòa Thượng đã là người sớm có tư chất hiền lương, có tâm thương người mến vật, là con có hiếu với ông bà cha mẹ.