Nhẹ Gót Thong Dong (kính tiễn Thầy Phương Bình, viên tịch tại xứ Phù Tang)

16/08/202408:02(Xem: 2663)
Nhẹ Gót Thong Dong (kính tiễn Thầy Phương Bình, viên tịch tại xứ Phù Tang)



thay phuong binh-2

Nhẹ Gót Thong Dong




Phương Bình Nhẹ gót thong dong
Ngàn lâu mây trắng, giữa Hồng hạt bay.
Xứ Nhật Bản, tiễn chân Thầy,
Về Nơi tịnh Cảnh, hương say tâm từ.


Phương Bình một niệm Huân tu,
Ngàn xưa giữa chốn, Vân du hành trình.
Ba mươi năm, một chút tình.
Xuất gia thửa nhỏ, lời kinh nhiệm màu.


Sáu mùa hạ Lạp pháp thâu,
Trì danh giới luật, một câu kinh Huyền.
Quan Thế Âm, chút thiền viên,
Lắng nghe sóng vỗ, tự nhiên an lành.


Thiền Viện Vạn hạnh lừng danh,
Một tâm phụng sự, chỉ dành duyên xưa.
Xứ Nhật Bản kết bốn mùa,
Hoa Đàm tuy rụng, đại thừa pháp âm.


Đại Ân dấu ấn chữ Tâm,
Xưng ngôi đường thượng, gởi tầm bay cao.
Lời dạy y pháp thanh tao,
Dưỡng nuôi hạt Ngọc, bước vào cuộc chơi.


Bây chừ thả hết cho đời,
Thả luôn tứ đại, một lời A Di.
Quay về chốn Tổ dung nghi,
Chân dung nối gót, từ bi tâm Thầy.


Bây chừ thanh thản cõi này,
Vẫy chào cánh hạt, tung bay muôn trùng.
Sắc thân gởi tạm trùng Phùng.
Phương bình vạn nẻo, nghìn trùng tự do.


Sắc không nhịp bước lên đò,
Hồi quy cõi tịnh, ru hò câu kinh.
Mênh Mông không tướng Huyền linh,
Ngàn xưa Phật Quốc, Phương Bình lạc bang.



thay phuong binh-1




Nhớ giác linh xưa: Tôi và Thầy có một duyên gặp nhau từ khi còn là cư sĩ, duyên ấy cứ trôi vào hư không cõi tịch, và nụ cười thôi cũng đủ cái nét nhớ về người Thầy ngày xưa.

Thế rồi: Nghe Thầy đi xuất gia Tôi vui lắm, tình thương của chiếc áo nâu sòng mãi mãi giữ gìn trọn vẹn một cõi tâm an trú giới hành.

Duyên xưa còn chắc chắn thì ta sẻ gặp và kết tình như vậy đúng không Phương Bình nhỉ, một kỳ ngộ lạ thường, năm 2014 Thầy và Tôi gặp lại chốn Thiền Viện Vạn Hạnh - Đà Lạt, như cái duyên xưa, kể chuyện về đời tư, cái vui, cái khó, cái buồn, cái hạnh phúc.

Ngày Thầy bước lên Thọ giới Tỳ Kheo, Thầy mong muốn Tôi hiến tặng Pháp y, nhất trí không ngần ngại, và Tôi tác chứng cho Thầy ba bộ y mà trong tâm Tôi vui vô ngần, thế là cứ thế mà vui.

Ngày Tôi có duyên lên gặp Thầy sau ngày thọ Đại Giới Tỳ Kheo, Thầy bảo rằng: “Trân Trọng những hạnh nguyện mãi mãi bên lộ trình xuất gia….!”.

Tôi bảo:
“ Phương Như trí Sáng Trăng
Bình Như Tâm tự tại
Thong dong ngàn mây trắng
Hạnh nguyện kiếp Như Lai..”

Ngày Thầy gọi Tôi bảo rằng:
“Phương Bình chào Pháp lữ, Minh Thế đi Nhật học tiếp về ngành y…!”

Thế là Tôi bảo rằng:
“Tinh tấn hạnh nguyện, hẹn ngày tái Phùng ở xứ Phù Tang.”

Duyên thế thôi, Tôi chưa kịp thì Phương Bình đã rong chơi niềm Tịch Lạc xứ Tịnh Độ Di Đà..!
Pháp y xưa, ngày nay xin phụng thờ như là duyên trong tình pháp hữu giữ chốn Hồng Trần nhân gian.
Thôi thì, xin hẹn kiếp tao Phùng ở cảnh tịnh độ tinh tu..!

Ngày sinh Nhật của Tôi Thầy nhắn tin gởi lời chúc, thế mà ba ngày sau nghe tin Thầy đã từ giả cõi tạm…! Thế nghe Phương Bình kính thương.

Kính Tiễn biệt Phương Bình…!
Nam Mô Đại Ân Đường Thượng TOCHIGI- Nhật Bản, Quán Thế Âm Môn Hạ, Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Lục Thế Huý thượng Nhuận hạ Thành Trí, tự Phương Bình Nguyễn Công Đại Đức Giác Linh Liên Toạ Nhã Giám…!

Mùa Tịnh Hạ An Cư-2568

Viết tại Phổ Tịnh Thiền Thất, khi nghe tin Thầy xả báo huyễn thân, tại xứ Phù Tang. Lúc 15 giờ 3 phút, ngày 06-08-2024 -tức ngày 03-07-Giáp Thìn.
Tk: Thích Minh Thế
Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.






Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang.

🙏🙏🙏🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/12/2010(Xem: 10907)
Hòa thượng Thích Quảng Thiệp (1928-1998)
25/11/2010(Xem: 37947)
Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.
24/11/2010(Xem: 15627)
Tiểu sử nhà văn Quách Tấn
15/11/2010(Xem: 10725)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11421)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 10855)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 17437)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 49251)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 10162)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).