Rạng Ngời Chân Dung (Thành kính tưởng niệm Sư Bà Chơn Hiền)

01/04/202311:37(Xem: 2696)
Rạng Ngời Chân Dung (Thành kính tưởng niệm Sư Bà Chơn Hiền)
su ba chon hien (7)


Rạng Ngời Chân Dung.


Hương bay về chốn quê xưa,
Thầy đi vào cõi, chơn thừa Phật tâm.
Trăm năm một nguyện sắc âm.
Tỉnh chân tu bước, lặng thầm thiền ca.

Chín bốn năm chốn hà sa,
Nương dòng thiền pháp, tịnh toà chân tu.
Giữ gìn tám pháp tâm từ,
Nương hành mật niệm, chân như trọn đời.

Sáu bảy năm giới thảnh thơi,
Ca sa pháp phục, đắt lời di ngôn.
Tụng kinh vọng tiếng sớm hôm,
Tụng trì hoa pháp, tâm hồn an nhiên.

Xuất gia tuổi nhỏ Diệu Viên,
Nương từ Diệu Đức, luật nghiêm hành trì.
Đại Ninh niệm Phật dung nghi,
Tinh tu phạm hạnh, khắc ghi Bồ đề.

Chơn Không chẳng bận nhiêu Khê,
Noi gương tôn trưởng, quay về Cố Đô.
Trụ trì Diệu Hỷ chuyên lo,
Nương câu kinh luật, chuyến đò qua sông.

Chơn Hiền truyền giới thong Dong,
Chơn Hiền trì mật, sắc không vô thường,
Trăm năm trong chốn mộng trường,
Trăm năm tự tại, muôn phương du hành.

Mây ngàn trăng ẩn huyền thanh,
Nắng mưa cát bụi, xanh xanh giữa đời.
Sư đi về bến tịch thời,
Sư về Tịnh Độ, rạng ngời chân dung.


su ba chon hien (7)
su ba chon hien (6)su ba chon hien (5)su ba chon hien (4)su ba chon hien (3)su ba chon hien (2)su ba chon hien (1)

su ba chon hien (8)
Niềm ký ức:
Chúng con, nhớ giác linh xưa, trong những chuổi Hạ tại chốn Tổ Diệu Viên, về đây dâng cúng quá đường cho chư tôn Đức ni, thì chúng con được phép hầu chuyện, những lời dạy vẫn còn trong tâm trí.
Ni trưởng dạy rằng:
“ Tu trong từng ý niệm, là hạnh nguyện xuất gia, giữ tâm Bồ đề thanh tịnh ấy là nét thiền gia. Vì chư vị ngàn xưa giữ gìn bát kỉnh pháp như vậy, nên lúc nào cũng tuân hành y giáo các bậc trưởng túc Tăng..”
Ni trưởng dạy tiếp:
“ Sống trong thiền môn mà quên đi tâm đại nguyện phụng trì giới luật, thì mãi mãi là kẻ cùng tử lang thang, vì luật là gốc cho chúng ta tiếng về Bồ đề nguyện, Bồ đề hạnh, Bồ đề tâm an trú trong mọi vật xung quanh…! “
Những lời dạy tuy mộc, nhưng ẩn chứa những giá trị chân tu.
Chúng con, vọng bái giác linh Sư trưởng, bậc Ni lưu trong chốn môn phong Từ Hiếu, từ Đức hạnh đến giới nghiêm luôn luôn giữ gìn đúng khuông thước.
Chúng con ở xa, chỉ có vòng hoa tâm dâng lên giác linh Sư Trưởng, nguyện giác linh Sư trưởng chứng giám.
     Do niên cao lạp trưởng, sau một thời gian biểu hiện bệnh duyên, Ni Trưởng đã xả báo an tường, thu thần viên tịch vào lúc 01 giờ, ngày 25 tháng 03 năm 2023 (nhằm ngày mồng 04 tháng 02 nhuận năm Quý Mão tại chùa Diệu Viên, phường Thủy Dương, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, trụ thế 94 tuổi đời, 67 hạ lạp.
       Nam Mô Tự Lâm Tế Chánh Tôn, tứ thập tam thế, Từ Hiếu pháp phái, Diệu Viên, Diệu Hỷ trú trì, Huý Thượng Tâm hạ Đức, hiệu Chơn Hiền Giác linh Ni trưởng thuỳ từ chứng giám.

Hà Nội ngày, 08-02 nhuận - Quý Mão.
                 Tk: Thích Minh Thế
                 Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10389)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 10276)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 13088)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8763)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.
09/04/2013(Xem: 14786)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8538)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 8982)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
09/04/2013(Xem: 10164)
Hòa thượng Hộ Tông (1893-1981), Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinhngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trongmột gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị Giêng.
09/04/2013(Xem: 8941)
Hòa Thượng họ Nguyễn, Húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngày sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức Huế.
09/04/2013(Xem: 14579)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái.