Mây Ngàn Thong Dong (Kính tưởng niệm Giác Linh Đại Đức Thích Thiện Nghiêm)

21/04/202221:20(Xem: 5879)
Mây Ngàn Thong Dong (Kính tưởng niệm Giác Linh Đại Đức Thích Thiện Nghiêm)
dai duc thich thien nghiem-8

Mây Ngàn Thong Dong.


Hồng Trần Chốn Cũ Dạo Chơi,
Bấy Nhiêu Cuộc Lữ, Nụ Cười Thong Dong.
Đến Đi Như Hạt Sắc Không,
Nhẹ Buông Hơi Thở, Hoá Trông Vô Thường.

Ba Tám Năm Một Dặm Trường,
Cõi Nam Gởi Chốn, Tình Thương Nghĩa Huyền.
Mười Năm Thực Tập Pháp Thiền,
Chu Huơng Nội Lực, Tâm Yên Đi Về.

Dẫu Đời Sanh Tử Nhiêu Khê,
Mấy Ai Thoát Ngộ, Cơm Mê Cõi Phàm.
Dẫu Đời Tình Sĩ Y Vàng,
Chính Ta Lựa Chọn, Diệu Dàng Pháp Y.

Chuyên Tu Viện, Nương Tu Trì,
Từ Thời Để Chỏm, Luật Nghi Bốn Mùa.
Nương Thời Tăng Chúng Trình Thưa,
Bái Ngài Thiện Thuận, Đại Thừa Tu Thân.

Bằng Trao Gia Phổ Nối Phần,
“Trung Tú “Thọ Pháp, Dự Phần Sa Di.
Đắc Tâm Ứng Hiện Uy Nghi,
“Thiện Nghiêm” Pháp Hiệu, Tâm Bi Phật Đà.

Giữ Gìn Giới Luật Ca Sa,
Tay Lần Niệm Hạt, Di Đà Hằng Duyên.
Vân Du Tham Vấn Học Thiền,
Nghiêm Tâm Luật Tịnh, Mật Hiền Tự Do.

“Giác Thiền “: Dừng Hoá Độ Tha,
Trao Ngôi “Phó Trụ”, Hằng Hà Lời Kinh.
Giảng Trao Pháp Nhũ Tâm Tình,
Trao Ban “Văn Hoá”, Đăng Trình Ứng Nhiên.

Thân Này Giã Tạm Gác Niềm,
Trả Ngôi Thất Cũ, Chuổi Yên Lần Tràng.
Nhất Quy Niệm Phật Hương Vang,
Xã Thân An Báo, Mây Ngàn Thong Dong.

Pháp Huynh Lưu Ảnh Tinh Không,
Mãi Lưu Nhớ Mãi, Cõi Lòng Trong Tôi….!


dai duc thich thien nghiem-1dai duc thich thien nghiem-2dai duc thich thien nghiem-3dai duc thich thien nghiem-4dai duc thich thien nghiem-5dai duc thich thien nghiem-6dai duc thich thien nghiem-7


Nhân Duyên tiếp diễn:
     Tôi và Pháp Huynh Thiện Nghiêm, có một nhân duyên tiếp diễn lạ kỳ, gặp nhau trong tình Đạo giải thoát, gặp nhau rồi chia sẽ cho nhau về cách tu học vận hoá trong chốn viễn du,  tìm về bên tâm tình giác ngộ từ Đức Thích Tôn.
     Nhân Duyên ấy vào năm 2020,chúng tôi có dịp về chùa Giác Long dự lễ Huý Nhật Đức Cố Trưởng Lão Hoà Thượng Thích Thiện Bình- Viện Chủ Bửu Liên, là Vị ân sư của Đại Đức Thích Minh Tuấn.
     Thế là, chúng tôi có những cuộc đàm thoại về Pháp học, Pháp hành. Tuy tuổi đời bằng nhau, nhưng tuổi đạo Pháp Huynh Thiện Nghiêm nhỏ hơn mấy hạ, nhưng đối với tôi học hạnh khiêm cung, nên xưng danh là Pháp Huynh, vì xem nhau như chút tình đạo lữ Tri âm.
       Pháp Huynh Thiện Nghiêm bảo rằng:      “Huynh Minh Thế, Vân trình tu học được pháp Ngọc gì lợi lạc, chia sẻ cho nhau về cách thọ trì ứng hoá….?”
       Tôi liền đáp:
“ Huynh biết không, đi Tu Bụi như Minh Thế, đến tham vấn các vị trưởng lão tôn túc chỉ dạy về các pháp tu, mỗi vị có một cách học và trao gởi, ta cứ lượm được Ngọc vàng trong y pháp thì đó là nhân duyên chủng tánh Phật, khiến ta càng tu càng vui trong pháp, nhờ Tăng chỉ giáo mà có luật nghi hành trì…”
       Nghe Tôi bảo vậy, pháp huynh liền nói:      “ Quý hoá thay, học được pháp tu là một Ngọc vàng như bản môn Pháp hoa trao đổi tu trì, đã là vị thầy thì nên vận hành..”
       Tôi liền bảo:
      “ Pháp Huynh xuất xứ từ chốn Tổ nào..? Hiện nay trú dạ nơi nào..?”
       Pháp huynh cười tự tại, rồi bảo:
       “ Thiện Nghiêm đang thuộc môn phong chốn tổ Tu Viện Chuyên Tu, Bậc Thầy Của Thiện Nghiêm là vị ân sư Thượng Thiện Hạ Thuận, xuất gia từ 2008, và nay được có 9 hạ thôi, nhỏ lắm, chỉ mong được học và đi thong Dong như huynh, thì hay biết mấy. Giờ thì lưu xứ Chốn già lam Giác Thiền- Vĩnh Long, nơi Pháp Huynh Thích Nghiêm Trí Trụ Trì, mình làm phó lâu chau, mà vui kinh kệ hai thời, rãnh thì niệm Phật Di Đà, công việc gì giúp anh em huynh đệ được thì lăng xã hết lòng….”
        Tôi đáp:
       “Thế là Tốt rồi, mình đây còn lang thang rộng chơi, chưa chịu về ngôi nhà Bảo sở….”
       Thế là anh em cười vang, nghe tiếng chuông, anh em chúng tôi liền xuống phụ xắp xếp các công tác chuẩn bị dự phần trai tăng dâng cúng cho các vị Hoà Thượng, nên xuống làm.
      Anh em huynh đệ có: Huynh Minh Tuấn, Minh Thế, Nghiêm Trí, Thiện Nghiêm, Trí Thành, Đức Trung, Đức Nhuận, và một số huynh đệ khác nữa.
       Chúng tôi làm đến 24 giờ mới xong phần thiết trí, thế là anh em bên chung trà khuya, hàm huyên tâm sự với nhau. Chia sẻ vui buồn trong cuộc sống.
        Mùa dịch qua đi chúng tôi xa mặt, nhưng thường hay hỏi thăm qua phương xa, biết sức khỏe luôn luôn ổn. Nào ngờ giờ vô thường lại đến, chuyện tử sanh như cánh hạt cỡi chăn, pháp huynh đi nhanh lắm, bệnh một tháng mấy ngày tưởng còn lưu được, để chung vui khi gặp nhau trên cuộc lữ tình đạo giác ngộ.
         Ấy vậy, pháp huynh đã trút hơi thở thu thần an nhiên vào lúc 14 giờ 50 phút, ngày 20-03-Năm Nhâm Dần, tức ngày 20-04-2022.
        Tại Niệm Phật Đường Giác Thiền- Bình Tân- Vĩnh Long.
         Trụ thế 38 mùa Xuân, hạ Lạp 10 năm tu học. 15 năm an trú trong chánh pháp tu học với đại chúng Chuyên Tu. Mấy mùa làm Phó trụ trì Giác Thiền thêm vui Đạo, làm Uỷ Viên Ban Văn Hoá của Tỉnh Vĩnh Long. Như nhân duyên sắp xếp. Vui nhé huynh nghe.
        Thôi thì, pháp huynh đi trước hẹn gặp chốn hội liên đài cảnh tịnh, để nguyện một đời làm vị học giả Thiền Tăng.
        Duyên lành chưa đủ, nên Minh Thế có Nhã lời Nhờ Pháp Huynh Minh Tuấn thắp nén hương tâm, lên pháp huynh Thiện Nghiêm, mong huynh đến đi tự tại, giờ này tại phương thất phổ chiếu thiền vi, hướng tâm về nơi lưu trí nhục thân Pháp Huynh,  bên chốn Tổ giác thiền. Mong Huynh nhất tâm niệm Phật về cảnh tịnh dự phần liên hoa.
Chúng con, Thành tâm chia buồn cùng với Tứ chúng Tu Viện Chuyên Tu, và Pháp Huynh Trụ Trì Giác Thiền Tự thích Nghiêm Trí và Môn nhơn Pháp Quyến, Thế Quyến.
Cung từ bái biệt…!

                 Tk: Thích Minh Thế
                 Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang
                 Ngày 21-04-2022
                 Ngày Âm Lịch: 21-03-Nhâm Dần.



facebook
youtube
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/03/2013(Xem: 8661)
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
11/03/2013(Xem: 8839)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9863)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11551)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 13148)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24382)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10429)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8703)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8658)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8660)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.