Nhớ Về Kỷ Niệm (Kính dâng Sư Bà Thích Nữ Diệu Tâm (1939-2021)

20/06/202108:06(Xem: 6158)
Nhớ Về Kỷ Niệm (Kính dâng Sư Bà Thích Nữ Diệu Tâm (1939-2021)
su ba dieu tam 3

Nhớ Về Kỷ Niệm
Con kính dâng Sư Bà Thích Nữ Diệu Tâm
Khai Sơn Chùa Bảo Quang, Hamburg, Đức Quốc
Trần Thị Nhật Hưng


Diễn đọc: Cư Sĩ Diệu Danh




Mùa Hè không riêng gì Thụy Sĩ mà cả Âu Châu ngày dài hơn đêm. Mới 5 giờ sáng trời đã bảnh mắt, nắng đã lên cao, len vào phòng chói chang, tôi thường thức dậy khi bên ngoài tiếng chim ríu rít chào đón một ngày mới.

Nhìn đồng hồ còn sớm quá, không ngủ lại được, tôi có thói quen với tay mở Ipad xem vớ vẩn thông tin trong ngày, đọc mail hay có khi mở nghe một bài pháp thoại. Nhưng lần này, trong facebook, tôi chú ý một tin nhắn: Sư Bà Diệu Tâm chùa Bảo Quang Đức quốc vừa viên tịch lúc...giờ...ngày...tháng...năm...! Đúng ngay ngày tôi vừa đọc tin. Thú thật, tôi không mấy ngạc nhiên hay bàng hoàng vì Sư Bà đã đi đúng lộ trình Đức Phật đề ra Sinh- Lão- Bịnh- Tử. Sư Bà đã 82 tuổi rồi, từ vài năm nay sức khỏe đã yếu, do vậy, Sư Bà có rủ áo ra đi về cõi Phật cũng là điều hiển nhiên không ai thắc mắc. Tuy nhiên, trước sự mất mát ra đi vĩnh viễn của một người mình quen biết ít nhiều cũng để lại trong lòng chút man mác bồi hồi. Tôi tuy không sinh hoạt với chùa Bảo Quang của Sư Bà vì đường xa cách trở, nhưng ở Âu Châu, không Phật tử nào mà không biết đến Sư Bà, biết về một ngôi chùa Sư nữ, nơi đào tạo nhiều Ni tài có thể nói tại Đức, tại Âu Châu đã phát triển nhiều ngôi chùa Ni và xa hơn mãi tận bên Nga, cũng có đệ tử của Sư Bà gánh vác hành đạo dẫn dắt Phật tử trên con đường tìm về Bến Giác.


Nhưng điều tôi muốn ghi nhận tại đây là một vài kỷ niệm giữa tôi với Sư Bà, bỗng nhiên sống dậy trong tôi rõ mồn một khi nghe tin Sư Bà viên tịch.

  
Tôi gặp và biết đến Sư Bà lần đầu tiên khi khóa tu học Âu Châu tổ chức tại thành phố Hamburg. Sau khóa tu, một số Phật tử ở xa có đến gần 50 người, trong số đó có vợ chồng tôi, đã được anh Chủ bút Phù Vân giới thiệu tá túc qua đêm tại chùa Bảo Quang của Sư Bà để hôm sau tiện đường ra phi trường về trụ xứ.

 
Sau khi vào chánh điện lễ Phật, anh Phù Vân đưa tôi đảnh lễ Sư Bà:

- A Di Đà Phật, xin giới thiệu với Sư Bà, đây là cô Nhật Hưng, cây bút nữ của báo Viên Giác.

   Sư Bà đưa mắt nhìn tôi, ánh mắt trìu mến phảng phất trên khuôn mặt tròn vô cùng phúc hậu. Sư Bà mỉm cười, nụ cười dịu dàng, thiện cảm:

- Nhật Hưng đấy hả. Tôi đọc rất nhiều bài của cô trên báo. Tán thán tinh thần đóng góp của cô cho đạo pháp và văn học.


Rồi sau vài câu hỏi thăm xã giao, cũng gần đến bữa cơm chiều, Sư Bà mời tất cả vào phòng ăn dùng bữa.


Bữa cơm chiều hôm đó, chỉ mỗi món duy nhất gọn, nhẹ: Bún, rau sống gồm dưa leo, giá với đủ loại rau thơm, nước chấm pha, bánh tráng cuốn, cuốn với đậu hủ, mì căng chiên và giò lụa chay. Mỗi người tự cuốn lấy ăn. Mùa hè nóng nực, được thưởng thức món ăn “mát mẻ„ không phải cầu kỳ nấu nướng nhiều mà đặc biệt nữa không thừa không thiếu cho chừng ấy người ăn,  ai nấy ăn vô cùng ngon miệng, no nê sau đó còn tráng miệng với chén chè đậu xanh nước chưa kể trái cây đã nói lên sự tài tình của người biết sắp đặt tính toán bữa ăn. Tôi thầm thán phục trong lòng về cách tổ chức khéo léo của chùa và tò mò muốn biết ai đứng bếp chỉ huy. Đối với tôi, không phải cứ mâm cao cỗ đầy với bao món ăn cao lương mỹ vị ê hề, thừa mứa mới được đánh giá là giỏi, mà chính ở chỗ biết cân nhắc sao kịp lúc kịp thời, kịp hoàn cảnh, biết tùy cơ mà hành xử đó mới là điều đáng trân quí.

   
Khi “điều tra„ biết đó là Sư Cô Tuệ Đàm Nghiêm, đệ tử của Sư Bà, hiện được Sư Bà đầu tư nuôi dạy cho học đạo lẫn theo đuổi Đại Học trường đời, sẽ là người sau này thừa kế chức Trụ Trì thay Sư Bà đảm nhiệm ngôi chùa, tôi đã nghĩ và thấy ra tầm nhìn trí tuệ của Sư Bà “Minh Sư mới nhìn ra hiền sĩ„. Thầy giỏi thì biết đào tạo trò ngoan.

  
Tối đó, lúc 20 giờ, khi Sư Bà nghỉ ngơi, Sư Cô Tuệ Đàm Nghiêm hướng dẫn cả đoàn ra bến cảng Hamburg thưởng thức xem „múa nước“ (nước nhảy nhịp nhàng luôn thay đổi màu sắc theo từng điệu nhạc vô cùng sống động và đẹp mắt).

   
Lần hai, tôi gặp lại Sư Bà trong chuyến hành hương tại Nhật do Hòa Thượng Phương Trượng Thích Như Điển tổ chức. Lần này, tôi gần gũi thân thiện với Sư Bà nhiều hơn, do vậy, một hôm, trên chuyến xe Bus lớn chứa 50 người đi từ tỉnh này sang tỉnh nọ, để giết thì giờ và để cho mọi người quên đường xa hơn 7 tiếng đồng hồ, cũng như quên mệt nhọc, Hòa Thượng đề nghị tổ chức văn nghệ bỏ túi. Ai muốn hát thì hát, ai kể chuyện vui thì kể. Đương nhiên với người có máu yêu văn nghệ một cây xanh...lè như tôi, tôi bị chiếu tướng mời lên hát. Vốn biết mình chỉ...hay hát chứ không...hát hay, tôi chuyển hướng hát tếu cho... vui hơn là cho... hay.

  
Số là trước khi đi, tình cờ tôi nghe được hai bài hát “Em Về Kẻo Trời Mưa„ và bài “Mưa Chiều Kỷ Niệm„ do ca sĩ Ánh Tuyết vốn quê Quảng Nam hát hai bài đó bằng giọng Quảng thay vì giọng Bắc như thường lệ, thấy hay hay, ngồ ngộ, tôi ghi chép, bắt chước và nghêu ngao tập hát luôn miệng cho vui cửa vui nhà.

  
Nay trên xe, cầm micro đứng trước bao “khán giả„ trên xe, lại đứng gần ngay Sư Bà ngồi, biết Sư Bà quê Quảng Nam, tôi xin phép hát ngay bài “Em Về Kẻo Trời Mưa„ tôi còn đặc biệt riêng tặng Sư Bà để nhớ về xứ Quảng (lúc đó không dám nói tặng Hòa Thượng dù Hòa Thượng cũng quê Quảng Nam vì có chút ngài ngại mặc dù tôi biết khi văn nghệ vui chơi lòng ai cũng sởi lởi!)

  
Tôi cất tiếng hát với giọng phát âm rặc Quảng Nam: “Nếu chiều...na..a..(nay) không có anh, ưa (ai) sẽ đưa...tui về, trời sắp đổ cơn mưa,... reng (răng) anh còn đứng... mữa (mãi). Hãy...núa (nói) một lời, có...phửa (phải) anh giận..tui, có... phửa anh giận tui...?

  
Tôi vẫn nghe thiên hạ nói “chửi cha không bằng pha tiếng„ sẽ làm người nghe nổi giận, có khi còn...chửi hay đánh lại mình, thế mà khi nghe tôi hát, Sư Bà cười ngặt nghẽo, người cứ rung lên từng hồi vô cùng thích thú làm như quê hương xứ Quảng đang hiện diện trước mặt, như Sư Bà đang được về thăm quê nhà sau bao ngày xa cách. Tưởng nghĩ Sư Bà cũng như cả xe...ngưỡng mộ (?) giọng ca của tôi mới vỗ tay đôm đốp hoan hô, và còn bis...bis...làm tôi cũng vui lây, hăng tiết vịt, tôi thừa thắng xông lên, hát luôn bài thứ hai “Mưa Chiều Kỷ Niệm„ (Nhớ chiều nào em đến thăm anh, hưa (hai) bên đường phố véng (vắng) lên đèn. Mưa gieng gieng (giăng giăng) mờ kín khung trời...) cũng giọng Quảng như thế cho không khí vui nhộn để mọi người được vui quên đi đoạn đường dài trước mặt.

  
Lần thứ ba, sau nhiều năm trời nữa, nhân cơ hội họp mặt nhóm bút nữ báo Viên Giác tại nhà anh Chủ bút Phù Vân ngay tại Hamburg cùng thành phố chùa Bảo Quang của Sư Bà, chúng tôi dành một buổi ghé thăm chùa và đảnh lễ Sư Bà, lần này Sư Bà đã già và yếu chỉ nằm một chỗ. Chúng tôi chỉ ghé thăm không ở lâu để Sư Bà nghỉ ngơi.

  
Nay nghe tin Sư Bà viên tịch, do vậy, tôi không mấy ngạc nhiên hay bị sốc. Dù sao Sư Bà cũng đầy phước duyên trên cõi đời này đã sống và làm những điều như ý muốn đã để lại cho đạo cũng như đời những thành quả đáng ghi nhận.

  
Nơi xa, gặp mùa covid giản cách xã hội, lại thêm “lão„ phu quân tuổi hạc cao luôn cần tôi bên cạnh chăm sóc, tôi không thể đi đâu dễ dàng hay bay xa tham dự lễ tang của Sư Bà, nhưng tôi vẫn theo dõi trên mạng và hôm nay ngồi viết bài này thay sự hiện diện của tôi trong tang lễ với lời cầu nguyện Giác Linh Sư Bà đăng quang Phật Quốc cùng lời chia sẻ sự mất mát người thân với toàn thể Chư Ni chùa Bảo Quang cùng gia đình Sư Bà.

  
Và nếu Sư Bà còn muốn nghe con hát (hát giọng Quảng Nam nha), con xin thủ thỉ một vài lời nho nhỏ: “Nếu ngày nay đã vắng Sư, ai sẽ lo cho chùa? (đã có Sư Cô Tuệ Đàm Nghiêm cùng Chư Ni, Phật tử). Ngài (Sư Bà) đã ngả phương Tây (Cõi Phật A Di Đà), sao con còn ngóng mãi. Con mãi ngóng hoài, có phải Sư...bỏ con, có phải Sư...bỏ con?!"


Không, Sư Bà không bỏ ai hết, Sư Bà về cõi Phật sẽ quay về độ cho chúng Phật tử ta đó!

 

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật

Trần Thị Nhật Hưng

  

facebook-1


***
youtube

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/11/2010(Xem: 10544)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11241)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 10623)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 15695)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 47098)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 9965)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).
23/10/2010(Xem: 8503)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 8655)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
23/10/2010(Xem: 8470)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 8306)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự