Nhạc Đờn Tiễn Chân (Kính tưởng niệm Hòa Thượng Thích Phước Thông)

29/05/202118:42(Xem: 5966)
Nhạc Đờn Tiễn Chân (Kính tưởng niệm Hòa Thượng Thích Phước Thông)
ht phuoc thong (3)
Nhạc Đờn Tiễn Chân.

Phương Trời Ngự Giá, Quê Hương.
Trà Trì Một Mối, Mở Đường Huân Nhiên.
Khởi Tâm Thác Tích Tuệ Hiền,
Cố Đô Xứ Huế, Toạ Thiền Tỉnh Tu.

Báo Quốc Nuôi Lớn Tâm Từ,
Uy Nghi Đỉnh Hạt, Áng Thư Luật Hành.
Nguyên Tịnh Thời Chỏm Duyên Sanh.
Học Hai Thời Ngữ, Trì Kinh Từng Giờ.

Bái Cầu Trí Thủ Tôn Thờ,
Xưng Ngôi Sư Phụ, Dạy Tờ Luật Gia.
Y Vàng Tâm Vững Ca Sa,
Ôm Tầm Hoá Nguyện, Ngôi Nhà Phước Thông.

Dấn Thân Mật Ngữ Thiền Tông.
Gia Trì Ứng Quyết, Sắc Không Du Già.
Vững Vàng Hạt Ngọc Châu Xa,
Yên Thân Niệm Phật, Pháp Hoa Thọ Thời.

Chốn Già Lam Sáng Tinh Khôi,
Nương Y Tứ Chúng, Nhặt Lời Kim Cương.
Tịnh Quang Khai Kiến Dẫn Đường,
Hải Quang Nương Chốn, Gởi Hương Thiền Trì.

Hiệu Hải Phước Thướt Dung Nghi,
Tám Hai Màu Lá, Đến Đi Thông Hành.
Năm Ba Mùa Nguyện Hồng Danh.
Thênh Thang Mây Trắng, Vịnh Cành Sen Thơm.

Bàn Tay Nhiếp Hoá Tri Ơn,
Nuôi Dạy Đồ Chúng, Tâm Hồn Tròn Duyên.
Buông Tay Nhẹ Gót Cõi Huyền,
Trần Gian Gối Tạm, Tịnh Thiền Vang Xa.

Thân Ứng Bệnh, Mộng Phù Hoa,
Ôm Cười Hơi Thở, Về Nhà Thích Tôn.
Mùa Khánh Đản Bái Biệt Ôn,
Mười Lăm Trăng Tựu, Nhạc Đờn Tiễn Chân.

Ký Thác Chất Xã Tham Dần,
Thất Hàng Tứ Chúng, Niệm Ân Sâu Dầy.
Sen Thơm Cung Đón Trời Mây,
Lời Kinh Di Giáo, Dưỡng Đài Lạc Bang.



ht phuoc thong (1)ht phuoc thong (2)ht phuoc thong (3)ht phuoc thong (4)ht phuoc thong (5)ht phuoc thong (6)ht phuoc thong (7)ht phuoc thong (8)ht phuoc thong (9)ht phuoc thong (10)ht phuoc thong (11)ht phuoc thong (12)ht phuoc thong (13)ht phuoc thong (14)ht phuoc thong (15)ht phuoc thong (16)ht phuoc thong (17)ht phuoc thong (18)
     Khải Bạch Ngài:
     Đệ Tử chúng con, hàng hậu học Tỳ Kheo Thích Minh Thế- Huế thuộc Môn Phong Tổ Đình Từ Hiếu, được nhân duyên diện kiến Ngài 3 lần, một lần Chùa Bát Nhã, Lúc ở Chùa Hải Quang, trong mùa Huý Kỵ Ngài Nhật Lệ. Năm 2007-2008,2009,2010. Hay tại Chùa Quảng Hương Già Lam, nhân Huý kỵ Tôn Sư Thượng Trí Hạ Thủ- 2012-2014, tất cả đều ở Sài Gòn.
      Diện kiến Ngài là một lần học được tâm hạnh Khiêm cung, luôn lấy pháp Mật chú mà gia trì.
Lấy giới luật mà dụng tu, lấy công phu trì niệm Pháp Hoa, Sám Lễ, Trì Chú Niệm Phật A Di Đà, để Huân nhiên chủng tánh.
      Diện kiến Ngài lúc nào cũng có chiếc gậy bên mình, vì đôi chân có phần chưa tốt, nên từ đó Diện kiến Ngài là đều hi hữu.
     Ngài từng dạy tại Trường Bồ Đề, nơi trú xứ Buôn Ma Thuột, giữ những lời dạy sâu sắc, tiếp nối truyền thừa lưu lại đàn hậu tấn về sau, các vị được thọ ân từ Ngài, giờ này cũng chấp cánh bay xa bên xứ ngoài, hay trong xứ, làm niềm vui an tịnh cho chính mình ở Bồ đề Tại xứ Buôn Mê.
     Ngài từng ngồi hành pháp Mật gia trì, Trai đàn Chẩn, hay khoa nghi Bạt Độ, chất giọng cao, trầm bổng, Uy Nghi dung tướng đỉnh đạt, văn phong công văn một thửa.
     Từ đất Sài Gòn- đến tận Cao Nguyên, nơi nào Ngài qua nơi ấy thêm phần thân tín Tam bảo.
      Hay những lần về thăm lại chốn Tổ Báo Quốc, Ba La Mật, Tra Am, hay về quê hương Trà Trì, Ngài Khắc nhớ những âm vọng Kinh Thời hành hoá, chất công phu tu học sâu dầy, những bài kinh Lăng Nghiêm chưa trôi từng chữ, những lời Sa Di khu Ô Thẳng tướng trượng phu, Chính Ngài phục dịch hầu trà buổi sớm đêm đông Xứ Huế, Ngài vẫn an tường tâm trí lời Yết đế Ba La..., những hạnh nghi Ngài đều in đậm nét phong sương.
     Dấu chân về Nha Trang thăm lại Viện Hải Đức, vang bóng một thời lừng danh, thì tất cả ghi nhớ tâm lời dạy, vì nơi ấy đã trao truyền Đàn giới cho Ngài từ thời 1964 thuộc Đàn giới Sa Di, khi Ngài vừa tròn 20. 
    Trải qua những thăng trầm thời vận, Ngài đủ phúc duyên đăng Đàn Thọ Cụ Túc- Bồ Tát Giới, vào Năm 1968 dưới mái Trường Hải Đức Nha Trang.
     Bao nhiêu thăng trầm tuế Nguyệt phong sương, thì bấy nhiêu trầm tư trong niềm tin Chánh pháp.
      Chúng con, sáng nay nhớ về lời dạy của Ngài, xin ghi lại chút đàm thoại khi Ngài thân lâm về tại chùa Bát Nhã- Bình Thạnh, nơi Cố Trưởng Lão Hoà Thượng thượng Đạt hạ Đạo làm Viện Chủ Phương Trượng Trú Trì.
      Hôm đó là nhân lễ Tiểu Tường Của Ngài Viện Chủ Phương Trượng Trú Trì Bát Nhã.
     Chúng con được đảnh lễ Ngài, và sau đó được Ngài dạy:
     “ Thầy Minh Thế, Nhớ tu học tốt trong niềm tin Chánh pháp, dụng hành nghiêm nghe pháp giới luật thiền gia, tu là đến chứ đừng lùi mà phí đi lời các vị tôn túc chỉ giáo...”
       Rồi Ngài dạy Tiếp:
     “Đi hoá duyên chớ vì dục tiền kinh tế, mà phải vì đại nguyện tu hành, đi như dấu chân Thích Ca Văn, đến Bảo Sở, chớ đến Hoá Thành..”
       Tôi chấp tay bạch:
       “Xin Ngài cho con chữ để vận dụng công phu....?”
       Ngài đáp:
       “Thể chữ Nghi, chính lễ nghi Phương tiện, thể Chữ Trì, là uy nghi giữ giới sạch như hạnh kim cang, thể Chữ Tu, là phúc tuệ từ dung, thể Chữ Như, là Huân Tu niệm Phật, có vận thời con nghiệm lời Của Ta...”
       Tôi Chấp tay cuối đầu thọ nhận, và lời Ngài dạy còn nhiều lần khác nữa.
       Vận hành từ năm 2014, đến nay trải dài gần 8 năm Du Bước tại xứ Bắc, tôi luôn ghi nhớ lời Ngài, như kim chỉ nam vận hành.
       Hôm nay, sen vàng Khánh Đản Thái Tử Tất Đạt Đa, Đông Cung Hoàng Thái Tử Đản Sanh Lương Thần. Cũng là lúc Pháp Huynh Minh Đoan báo tin Ngài an Nhiên Xã Báo, nỗi buồn Từ Đức Thượng Thủ Thích Thiện Hạnh Viên Tịch,mùng 10-04-Tân Sửu, vừa nhập Tháp Xong, chưa nguôi ngoai được, thì đến Ngài xã báo đúng ngày 15-04-Tân Sửu.
     Do mùa dịch bệnh viên phổi COVID-19, đang lang tràng trên đất Việt Nam, Xứ Sài Gòn vẫn còn phức tạp, nên chúng con nhờ Pháp Huynh Minh Đoan- Trú Trì Báo Ân- Vạn Ninh- Nha Trang. Tháp Tùng Ngài Viện Chủ Thượng Toạ Trú Trì Hải Quang cùng Chư Tăng, thay thế cho chúng con chấp tay vọng bái, Nguyện Ngài Mẫn giám gia trì chứng tri lòng thành hướng về nơi lưu ảnh nhục thân Ngài tại Hậu Đường Tịnh Quang.
     Cung Từ Duy Nguyện:
      Nam-mô từ Lâm Tế chánh tông, tứ thập tứ thế, Tịnh Quang tự Viện chủ, Húy thượng NGUYÊN hạ TỊNH, Tự PHƯỚC THÔNG, Hiệu HẢI PHƯỚC Hòa Thượng Giác linh.
     Viết tại Phương Thất Hỷ Chùa Thiên Ứng Phúc Lâm- Long Biên- Hà Nội, trong những ngày Khánh Đản Lương Thần Tất Đạt Hoàng Cung Thái Tử. Giữ những thời khắc Cung Đón Hoàng Thái Tử Tất Đạt Đa Độ Sinh. Xưng danh Hiệu Thế Tôn Thành Đạo, sau sáu năm khổ hạnh, cho hôm nay chúng con cung kính Từ Phụ Thế Tôn.
                 Kính Khể Thủ Lễ.
                 Tk: Thích Minh Thế
                 Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang
                 Ngày 26-05-2021
                 Ngày Âm Lịch: 15-04- Tân Sửu.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/03/2013(Xem: 8641)
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
11/03/2013(Xem: 8824)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9757)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11539)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 13142)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24362)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10400)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8697)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8630)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8637)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.