Khởi Tâm Xuất Chí.

20/08/202010:25(Xem: 6437)
Khởi Tâm Xuất Chí.

ht thien hue (12)

Khởi Tâm Xuất Chí


Lưng trời mây nắng có trông,
Giữa niềm trù Phú, cõi lòng thanh nhiên.
Đồng Tháp quê giữ trăm niềm,
Cò bay thẳng cánh, ưu phiền dẹp tan.
Ba ngàn thế sự thênh thang,
Vô thường chợt đến, ngộ trang kinh mầu.
Bồ đề ươm hạt từ lâu,
Bây chừ trổ nhánh, hồi đầu Phật Môn.
Chàng trai Văn Tấn dung ngôn,
Từ quê thành thị, bốn ơn dưỡng tình.
Xa xa vọng tiếng chuông kinh,
Khởi tâm xuất chí, đăng trình xuất gia.
Phước Hưng chốn tịnh hiền hoà,
Vĩnh Tràng Cầu pháp, dung hà nương thân.
Thời hành điệu, một chữ Nhân,
Hầu thầy hôm sớm, chuông ngân mây Huyền.
Sa di giới pháp trao truyền,
THIỆN HUỆ ấn chứng, giữ nguyên lời thầy.
Chuyên cần thức tỉnh đong đầy.
An nhiên trú pháp, tháng ngày đạo tâm.
Ba y bình bát nhã tầm,
Đăng đàn giới luật, thiện tâm trọn đời.
NHẬT THÀNH, Phú kệ tinh khôi,
Chấp tay lãnh thọ, sáng ngời Thích Tôn.
Nương Ngài VĨNH ĐẠT y ngôn,
Sáu thời trì nguyện, hoa thơm thanh bình.
Pháp Hoa kinh tụng sương minh,
Luật nghi trì giữ, độ trình hương say.
Đàn đầu giới thể truyền tay,
Yết Ma giáo thọ, chuyển đầy tình thương.
Nương Đức chúng độ soi đường,
Đệ Lục kế vị, noi gương trụ trì.
Từ Giáo Dục, đến luật nghi,
Hiệu trưởng Trung Cấp, Tăng -Ni nương nhờ.
Tịnh tài dâng cúng đôi bờ,
Dành phần Ngài Lại, xây tờ kinh thiên.
Trùng Hưng Tam Bảo vẹn truyền,
Cung Ngôi Phương Trượng, an nhiên hành trì.
Sáu chữ Danh Hiệu A Di,
Tha tâm ứng hiện, đến đi hương lòng.
Ngài Tự tại cõi sắc không,
Buôn tay nhẹ gót, mênh mông trở về.
Tây phương sen hiện giả mê,
Thầy đi an trú, toà nghê gót hài.
Sen vàng cung đón liên đài,
Ngôi hàng thượng phẩm, tiễn Ngài hồi quy.
Thong dong cõi tịnh khắc ghi,
Ngàn năm nhớ dáng, dung nghi Tình Thầy..!


ht thien hue (1)ht thien hue (2)ht thien hue (3)ht thien hue (4)ht thien hue (5)ht thien hue (6)ht thien hue (7)ht thien hue (8)ht thien hue (9)ht thien hue (10)ht thien hue (11)ht thien hue (12)

Cung kính:
Vọng Giác Nhiên Đài- Dung tướng An Nhiên.
TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN HUỆ
1941-2020
- Thành Viên Hội Đồng Chứng Minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
- Chứng minh Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyên Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
- Nguyên Ủy viên Ban Tăng Sự Trung Ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
- Nguyên Trưởng Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Đồng Tháp
- Nguyên Thành viên UBMTTQ Việt Nam tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyên Hiệu Trưởng trường Trung cấp Phật học tỉnh Đồng Tháp.
- Trụ trì chùa Phước Hưng, Phường 1, Thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
Do niên cao lạp trưởng, Trưởng Lão Hòa thượng đã thu thần viên tịch vào lúc 6 giờ 30 phút, ngày 17 tháng 8 năm 2020 (nhằm ngày 28 tháng 6 năm Canh Tý) tại chùa Phước Hưng, Phường 1, Thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp
* Trụ thế : 80 năm
* Hạ lạp : 58 năm
Chúng con Tk thích Minh Thế, đã có nhân duyên diện kiến trở về Chốn Tổ Phước Hưng, khi tuổi đạo còn non trẻ, vào mùa hạ 2010, chúng con có nhân duyên trở về đảnh lễ, tham vấn, và chiên bái các chốn Tùng lâm, trong đó có duyên diện kiến đến Ngài.
Một vị Thầy giáo dục cho bao thế hệ tăng sinh trẻ bước vào đạo, một bậc Thầy đã nhiều lần trao truyền giáo pháp giới thể chu viên cho tăng chúng nương tựa trong các đại giới đàn.
Ngài là vị giáo thọ sư, vị vi tác Hoà Thượng Đàn Đầu, vị yết ma truyền trao tâm giới, vị Tôn chứng giới đàn chu viên.
Nụ cười của Ngài và dung nghi khi ai được duyên diện kiến hầu cận, được nghe tiếng nói của Ngài với lời dạy dung dị thì hạnh nguyện viên tròn.
Tâm và thân Ngài luôn là một dung lượng từ bi, trí tuệ ấy luôn khiêm cung trước chư vị trưởng bối.
Hôm ấy, ngày 27-08 âm lịch của năm 2010, chúng con được Ngài chỉ dạy mấy điều:
- cung kính chư Phật, thì phúc Đức có mặt khắp trú xứ, Trời- Người quy ngưỡng.
- Cung kính Pháp bảo, mà học thì sẻ đưa tuệ tìm về trong gốc rễ Chánh pháp,và nhân duyên.
- Cung kính chư Tăng, nơi bản nguyện thể chứng tâm, từ Tăng già Hoà và tịnh, hợp và Thanh.
- Khiêm cung và Hiếu dưỡng thì mới có Tâm, như Tổ Nhất Định.
- Học và hành trì, nguyện sẻ mãi dung thông....!
Chúng con đã vận dụng và đi du hoá xứ Bắc, mang hành trang ấy đi khắp để trọn đầy niềm tin.
Hôm nay, nghe hay tin Ngài Quy Tây cảnh tịnh, chúng con ở xa xin bái vọng Giác linh Đài nơi lưu giữ nhục thân của Ngài.

Cung kính tiễn gót.
Tk: Thích Minh Thế
Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang
Ngày 17-08-2020.
Ngày Âm Lịch: 28-06-Canh Tý.
PHỤNG VÌ : Phước Hưng Đường Thượng Từ Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Nhị Thế
Thượng THIỆN Hạ HUỆ Húy Nhựt Thành Huỳnh Công Đại lão Hòa Thượng Giác linh.






Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 9104)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
09/04/2013(Xem: 10553)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 11136)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 13708)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8924)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.
09/04/2013(Xem: 14968)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8607)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 9127)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
09/04/2013(Xem: 10339)
Hòa thượng Hộ Tông (1893-1981), Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinhngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trongmột gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị Giêng.
09/04/2013(Xem: 9013)
Hòa Thượng họ Nguyễn, Húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngày sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức Huế.