THẦY…! Trong Ký ức của con

30/04/202016:31(Xem: 7360)
THẦY…! Trong Ký ức của con

ht dong chon
Tháp Tổ chùa Bình An, trước khi trùng tu



THẦY…! Trong Ký ức của con


Nước Úc đã bước vào tiết Thu, khí trời lạnh, những chiếc lá đang đổi sang màu vàng, cơn mưa đầu mùa làm lòng người se lại. Nhận tin báo từ quê nhà Thầy đã viên tịch, lòng con đau nhói vì không về được để đảnh lễ nhục thân Thầy, thọ tang Ân Sư Giáo Dưỡng. Nơi phương trời viễn xứ, con hướng về ngôi chùa Bình An, Giác Linh Đài tâm tang thọ phục.

Nhất Tâm Đảnh Lễ Tự Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Tam Thế, Bình An Đường Thượng, Húy thượng ĐỒNG hạ CHƠN, Hiệu Minh Chiếu, Tự Thông Thiện Hòa Thượng Ân Sư Giác Linh.

Ngày…tháng…năm 1986.

 

Đàn Giới Sa Di tổ chức tại Tổ Đình Thiên Bình sau ba ngày kết thúc, con về lại bổn tự chùa Giác Hoàng đảnh lễ Bổn sư, và sau đó xin được về chùa Bình An nương nơi Thầy học kinh luật. Ngày ấy, đất nước Việt Nam trong thời kỳ bao cấp… việc đi lại khó khăn. Thầy không quan ngại mọi việc, chấp nhận chúng con về chùa nương tựa tham học kinh điển. Thời đó; việc dạy và học kinh luật bằng phương thức gia giáo, mỗi người một quyển, không bảng phấn, không bút mực, Thầy dạy tới đâu chúng con dò theo tới đó, rồi mỗi người thuật lại theo ngữ nghĩa Thầy đã truyền đạt. Giờ học đầu tiên của ngày đầu, Thầy dạy cho chúng con là Sa Di Luật Giải, một bộ luật hầu hết những chú Sa di đều phải học. Phương thức dạy của Thầy, tạo ra sinh động trong tâm thức học trò, bằng cách giải nghĩa tường tận, qua những câu chuyện duyên khởi ý nghĩa cụ thể của giới. Trong ý niệm ngày đầu trong con thật là vui sướng, vì: được học, được ở, được ăn và được sống an bình chung nhiều huynh đệ với nhau trong tình thương của Thầy. Niềm vui ấy chưa tận hưởng trọn vẹn, một tác động, chúng con phải khăn gói ra đi về lại bổn tự. Đảnh lễ Thầy, dắt xe đạp đi, Thầy tiễn chân chúng con ra khỏi cổng chùa, Thầy không cần được nổi lòng… và Thầy bậc khóc òa thốt lên tiếng than lớn “chán đời! thầy tu mà tu học cũng không được”. Chúng con lặng lẽ dắt xe đi, Thầy âm thầm đứng đó trong bóng tối mờ mịt, khuất dần trong bóng đêm …

Ngày…tháng…năm 1988.

 

Thời gian thắm thoát trôi qua, duyên lành đến, chúng con trở lại nương nơi Thầy học đạo. Lần này huynh đệ đồng lớp của chúng con về học đông hơn, gồm: Vạn Đức từ Kontum, Nhuận Toàn từ chùa Thiên Trúc, Đồng Phước từ chùa Gia Khánh, Đồng Hiện từ chùa Bạch Sa và Giác Tín từ chùa Giác Hoàng. Những năm tháng dư vọng của sự nối tiếp thời kỳ bao cấp chấm dứt, cuộc sống tu sĩ trong chốn thiền môn không sao không khỏi sự thiếu thốn. Năm huynh đệ chúng con và ba vị đệ tử của Thầy là: Giác Hiệp (đầu năm 1988 vào chùa Vĩnh Nghiêm), Giác Quảng, Giác Hiển cùng Thầy Thị Quả, Thầy Đồng Văn sau khi tốt nghiệp khóa I Trường Cao Cấp Phật Học Cơ sở II tại thành phố Hồ Chí Minh trở về tổng cộng mười người.

Năm huynh đệ chúng con cùng học bộ Sa Di Luật Giải; Vạn Đức, Nhuận Toàn, Đồng Phước tiếp nhận sự truyền đạt của Thầy nhanh hơn, con thì chậm, nhưng Thầy vẫn ôn tồn, từ hòa dạy để con theo kịp huynh đệ, cùng nhau học. Lâu lâu Thầy vui, đùa với anh em chúng con vài câu trong lúc học mệt mỏi “Giác Tín sinh năm  Mậu Thân pháp danh của nó Vạn Phước, Vạn Phước Phu Nhân Chi Thần, nó học chậm nhưng mà chắc” Thầy vừa nói vừa cười hì hì…xong bộ Sa Di Luật Giải tiếp theo là những bộ kinh như: Nhị Khóa Hiệp Giải, Di Đà Sớ Sao…trình độ nội điển và Hán ngữ không đồng với nhau nên việc dạy của Thầy không khỏi vất vả. Thầy vẫn vui vẻ, kiên nhẫn dạy chúng con với tất cả tận tâm chứa đựng tình cảm Thầy Trò.

Chùa Bình An thời đó; nghèo! ruộng đất không nhiều. Huynh đệ chúng con không về nương ở tu học, mùa lúa thu hoạch đủ Thầy và đệ tử sống giáp năm. Nghèo khổ thì có nghèo khổ nhưng vui cũng có vui vì ý nghĩa “Lợi Hòa Đồng Quân” trong Lục Hòa Thầy luôn dạy chúng con bằng thân giáo. Bữa cơm thường nhật ngày đó rất là đạm bạc, phần ăn của Thầy không khác phần ăn của chúng con, cũng cơm và tô rau muống, nấu canh không giống canh, um không giống um, nghĩa là lấy cái chấm tương, lấy nước làm canh, hôm nào có thí chủ phát tâm về chùa nấu, hôm đó coi như là được ăn giỗ. Cuộc sống bình dị của Thầy thật đơn giản, không câu nợ, không cầu kỳ, không khó tánh nhưng không dễ dãi. Thỉnh thoảng Thầy gọi chúng con lên uống trà cũng là lúc Thầy dạy Thiền Môn Quy Củ. Đôi khi Thầy cũng đem vài chuyện thế sự Thầy gặp phải ra kể làm tư lương cho đời sống tu tập, có chuyện ngang trái Thầy lại thở dài bằng hai chữ “CHÁN ĐỜI”.

Vườn chùa cũng không rộng lắm, có vài khoảng đất trống có thể trồng trọt được, những giờ rảnh rỗi, Thầy cùng chúng con ra vườn cuốc đất trồng rau. Mùa hè oai bức của xứ miền Trung Bình Định, chùa có hơn mười cây dừa, Thầy bảo chúng con leo lên hái xuống uống cho khỏe. Thầy Vạn Đức nói “cái vụ này con chịu thua”  Thầy vừa nói và cười trong niềm vui đùa “Mầy con ngựa mà trèo gì, ở đây tới bốn con khỉ (Giác Hiệp, Giác Quảng, Giác Tín, Đồng Phước) lo gì không ai trèo” tất cả đều cười òa lên.  Ngoài thời gian Thầy dạy cho chúng con học, Thầy còn nhận lời thỉnh giáo giới cho chư Ni ở chùa Tâm Ấn, dạy luật cho quý chú tại chùa Long Khánh và vài nơi khác. Phương tiện cá nhân đi lại trong xã, huyện, duy nhất phần nhiều trong chốn thiền môn thời đó là chiếc xe đạp, Thầy đạp đi dạy, đi ứng phó pháp sự, Thầy đi xin gạo về để chúng con có cơm mà ăn. Những hình ảnh khả kính đó vẫn in trong tâm trí khi có dịp kể về Thầy.

Ngày…tháng…năm 1989.

Năm Mậu Thìn (1988), cơ duyên đã đến, Phật giáo Bình Định ra Thông Tư ấn định ngày mở Giới đàn, ngày 6,7,8 tháng 4 năm Kỷ Tỵ (nhằm ngày 10,11,12 tháng 5 năm 1989), chúng con hội đủ đủ duyên lành đăng Đàn thọ Cụ túc giới. Một tháng trước khi đăng đàn thọ giới, Thầy ôn lại cho chúng con toàn bộ kinh luật đã dạy để chuẩn bị cho ngày khảo hạch và khuyên bảo, quý chú trước thọ Đại giới, phải sám hối để tội chướng tiêu trừ, thọ giới mới đắc giới, và không nên đi ra ngoài nếu không có duyên sự chính đáng, hằng ngày sau giờ công phu, tụng ôn 4 quyển luật. Thầy sợ chúng con ra ngoài nhiều, tâm ý sẽ phan duyên với cảnh trần ảnh hưởng cho đạo nghiệp. Ngày giờ đã đến, Thầy không cho tự đạp xe đi đến giới trường, dù chặng đường đó, tuần lễ ba lần hằng đêm, chúng con đạp xe đi đến trường học cấp ba, chương trình bổ túc văn hóa. Thầy thuê một chiếc xe lam ba bánh chở chúng con, biết rằng chùa tiền bạc thiếu thốn. Tâm của Thầy là thế, tình của Thầy dành cho chúng con bao la vô cùng. Thế gian, ngoài Ba Mẹ ra không ai lo con cái như vậy. Trong đạo, ngoài vị Thầy Bổn Sư thế độ nuôi dưỡng, dạy dỗ mong sao đệ tử mình lớn khôn đầy đủ đạo lực, mai sau nối dòng Tổ nghiệp. Với Thầy, hình ảnh Thầy trong ký ức của con thật sâu đậm, năng lực đạo nghiệp trong con, cũng là phần nào đó năng lực đạo nghiệp được kế thừa từ Thầy.

Ngày con trở về thăm lại quê hương đất Tổ sau thời gian dài, lưu sống hành đạo nơi xứ người. Thăm chùa, thăm Thầy vào một đêm..! không gian yên tĩnh. Thầy vẫn như ngày nào, giọng nói đó, nét mặt tươi cười một thuở vẫn nguyên ban sơ, tuy thân tứ đại có phần suy kém. Thầy hỏi han về cuộc sống hành đạo của con, và con kể cho Thầy nghe, Thầy vui lắm…thời gian cũng đã về khuya, con xin phép Thầy ra về, Thầy tiễn chân con bên hành lang chùa, trời đổ cơn mưa lớn hạt, con vội vã lên xe, Thầy vẫn đứng đó như hình ảnh ngày nào, xe lăn bánh, cơn mưa như trút nước, xin màn đêm ghi lại giùm tôi bóng hình của Thầy trong tôi hằng luôn tôn kính.

                                                                                       
  Melbourne, Úc quốc 24/04/2020

Chùa Giác Hoàng
Đệ Tử Thích Giác Tín
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/10/2019(Xem: 6031)
Viện chủ TỔ ĐÌNH SẮC TỨ TỪ QUANG (Đá Trắng - Phú Yên) Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
20/10/2019(Xem: 9590)
Thân thế: Cố Đại đức thế danh Lê Quý Trúc Bảo, sanh vào ngày 23/3/1975 trong một gia đình nhiều đời theo Phật. Trong lần gia đình di cư đầu tiên vào Nam, song thân đã sinh Đại đức (ĐĐ) tại Tam Bình, Thủ Đức, Gia Định. Thân phụ là ông Lê Quý Triết, Thân mẫu là bà Hoàng Thị Tựu; nguyên quán Trà Trì, Hải Xuân, Hải Lăng, Quảng Trị. ĐĐ sinh ra trong gia đình có 8 anh em gồm 3 người anh trai, 2 em gái và 2 người em trai. Sau 30/4/1975 gia đình trở về nguyên quán Trà Trì, Quảng Trị. Đến tháng 7/1977 gia đình của cố ĐĐ lại một lần nữa di cư vào Nam và trú ở vùng kinh tế mới tại Châu Thành, Đồng Nai. - năm 1981-1986, cố ĐĐ học trường Tiểu học Quảng Thành, Châu Thành, Đồng Nai - năm 1986-1990, cố ĐĐ học trường Trung học cơ sở Kim Long, Châu Thành, Đồng Nai.
20/10/2019(Xem: 6162)
Hòa thượng sinh ra và lớn lên trong một gia đình khoa bảng nho học, nhưng dường như vốn có túc duyên nhiều đời với Phật pháp nên từ lúc thiếu thời khi còn đi học tại trường Trung học Dũng Lạc Hà Tây, Hòa thượng đã có xu hướng tìm hiểu Phật giáo. Đến năm 19 tuổi (1953) Ngài lặng lẽ từ biệt gia đình cùng người thân, từ giã nơi chôn nhau cắt rốn lần bước đi tìm thầy xuất gia cầu Đạo để hoàn thành ước nguyện của mình.
20/10/2019(Xem: 6802)
CỐ TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ HẢI Thành viên Hội Đồng Chứng Minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Quảng Trị Nguyên Phó trưởng ban Thường trực BTS GHPGVN tỉnh Quảng Trị Trú trì Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang – Quảng Trị; Tổ đình Hải Đức – Huế THÂN THẾ Hòa thượng họ Võ, húy Viết Hữu, nối pháp dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 41, pháp danh Không Cẩn, tự Trí Hải. Hòa thượng sinh năm Tân Tỵ [1941] tại thôn Phương Lang, xã Hải Ba, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Hòa Thượng xuất thân trong một gia đình nhiều đời thâm tín Tam Bảo, thân phụ là Cụ ông Võ Viết Linh – pháp danh Nguyên Minh, thân mẫu là Cụ bà Nguyễn Thị Diệm – pháp danh Nguyên Huệ. Ngài là người con út trong gia đình có 8 anh chị em.
20/10/2019(Xem: 10886)
Hòa thượng là người làng Triều Thủy, xã Phú An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tên thật là Nguyễn Đình Hiệp, sinh năm 1938, mất năm 1973 tại Sài Gòn. Sinh trong một gia đình thuần Phật có 9 anh em 4 trai 5 gái mà Hòa thượng là con út. Thân phụ là cụ Nguyễn Đình Thắng, pháp danh Tâm Minh, tự Diệu Dụng. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Lang, pháp danh Tâm Lạc.
20/10/2019(Xem: 7309)
Cố Đại Lão Hoà Thượng Thích Hộ Giác (1928 – 2012) – Phó Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. – Tăng Thống Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam. – Nguyên Tổng Thư Ký Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam. – Nguyên Thành Viên Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo. – Nguyên Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Cư Sỹ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. – Nguyên Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hoằng Pháp Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. – Nguyên Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Xã Hội Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. – Nguyên Phó Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. – Nguyên Tổng Thư Ký Hội Đồng Lãnh Đạo GHPGVNTN Hải Ngoại. – Nguyên Chủ Tịch Văn Phòng II Viện Hoá Đạo GHPGVNTN Hải Ngoại Tại Hoa Kỳ. – Nguyên Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam Tại Hoa Kỳ. – Viện chủ Tổ Đình (PHV) Pháp Quang; chùa Nam Tông; chùa Xá Lợi Phật Đài (Việt Nam). – Viện chủ Pháp Luân Tự, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ.
20/10/2019(Xem: 6802)
Hòa thượng đạo hiệu Thích Minh Cảnh, thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 40. Hòa thượng thế danh Nguyễn Hữu Danh, sinh ngày 12-11-Đinh Sửu (1937) tại làng Mỹ Tho, quận Cao Lãnh (Đồng Tháp). Hòa thượng xuất thân trong gia đình kính tin Tam bảo, thân phụ là cụ ông Nguyễn Minh Biện, pháp danh Minh Chiếu, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Mậu, pháp danh Diệu Thiệt. Hòa thượng là người con út, là con thứ 9 (miền Nam gọi là thứ 10) trong gia đình có 9 anh chị em, với bốn người anh, chị xuất gia tu học.
20/10/2019(Xem: 7137)
TIỂU SỬ HÒA THƯỢNG GIỚI NGHIÊM (THITASÌLA MAHATHERA) (1921 - 1984) Nguyên: - Tăng Thống Giáo Hội Tăng Già Phật Giáo Nguyên Thủy (Theravàda) Việt Nam. - Thành viên Hội Đồng Chứng Minh Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. - Phó Chủ Tịch Hội Đồng Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. - Phó Chủ Tịch Hội Hữu Nghị Việt Nam - Campuchia.
20/10/2019(Xem: 26752)
Hòa thượng Giác Khang thế danh Tô Văn Vinh sinh năm 1941 tại tỉnh Bạc Liêu. Thân sinh là cụ ông Tô Khanh. Thân mẫu là cụ bà Trần Thị Vén. Gia đình có 5 trai, 5 gái. Hòa thượng là con thứ 8 trong gia đình. Hòa thượng tốt nghiệp Tú Tài và học Cao đẳng Sư phạm. Ra trường đi dạy học ở Cái Côn – Cần Thơ.