Con Đã Thấy Pháp

18/04/202018:38(Xem: 5921)
Con Đã Thấy Pháp


ht dong chon 4


   Thầy ơi !

     Có lời dạy an nhiên nghe riết thành quen, đến khi Thầy đi con mới ngộ ra bài học lớn.

     Ngày còn ở quê, cứ lâu lâu con ghé thăm Thầy. Hồi đó sân vườn còn thấp so với bậc thềm, tam cấp hai bên hông chùa chưa kéo dài suốt như bây giờ, con leo lên bậc thềm cao đứng trước bậc cửa chắp tay, khom người tập tành:

   – A Di Đà Phật, Thưa Thầy có khỏe không?

     Thầy cười hiền hậu bảo:

 – Chết cho rồi.

Rồi cười thành tiếng, ân cần:

   – Rót nước uống đi con.

    Trăm lần như một.

    Trăm lần như một, con nhận được một tình thương gần gũi rất đặc biệt từ Thầy. Trăm lần như một, nhưng cứ lần hồi vô tâm quá lâu để năm tháng trôi qua cho đến khi  thảng thốt  nhận ra pháp thậm thâm tâm truyền thì Thầy đã không còn trụ thế.

     Ngày nhận được tin Thầy đi, hốt nhiên con nghĩ về Sự chết, lời Thầy sầm sập đổ xuống tâm con. Nhớ về lời Thầy dạy,  khởi ngộ về cái chết thì Thầy đã muôn trùng để con loay hoay giữa lý và sự, giữa thể và chất, giữa hữu và vô … mà không biết nương tựa vào đâu.

     Hốt hoảng với sự ra đi của Thầy con niệm soi về sự chết trong tâm. Hóa ra lâu nay những gì con biết về sự chết và nói ra rả về nó để chứng tỏ mình, trong phút chốc chỉ đong đầy vẻn vẹn  nụ cười vi tiếu. Con đã thở vào một hơi dài hơn mấy chục năm để mới thở ra hiểu được sự sâu thẳm trong lời Thầy truyền cho con,  ngay trong khoảnh khắc nhận được tin Thầy viên tịch.

    Quá nửa cuộc đời bạt gió, bon chen thế sự con chỉ luôn nghĩ về cõi sống, lao theo kiếp sống mong  thỏa chí tang bồng, cho thỏa lòng háo thắng. Rốt cục chỉ là trơ trọi giữa khoảng không, tâm úp mở thấp cao, lôi thôi nhếch nhác  thế nào là vui là khổ. Muốn nghe lời Thầy về lại chùa xưa tác nghiệp chăn trâu, nhưng nghiệp cõi nhân gian tựa hồ thiên xích lãng, hai chữ Bình An giờ ai dạy cho con. Bình an còn, nhưng giờ nương tựa vào đâu để được Bình an.

    Ngày xưa – con thường  nói như vậy, để nhớ về một quãng đời hữu duyên được sống gần Thầy. Ngày xưa Chùa mình nghèo lắm, gạo ăn chẳng lúc nào giáp hạt, thức ăn rau muối thường ngày, tương chao đôi khi còn hiếm. Bên cạnh giếng có mấy cây Dừa cho trái, thi thoảng lấy cơm dừa khô già vùi vào khạp muối rồi đem ra nướng trên bếp củi, bếp rơm. Cái ăn đã khó mà việc xin phép lưu trú của các Thầy, các chú cũng gặp khó khăn. Thế  nhưng sự học ở Chùa mình chưa bao giờ đứt đoạn. Việc học tập ở chùa như một dòng sông miệt mài chảy, cần mẫn chỉnh chu với nguồn khơi không dứt của Thầy.

  Có những năm các Thầy các Chú tựu về học tập, sáng ra một nồi cháo lớn với muối mà cũng sạch nhẵn nồi. Chúng con vững tâm nương tựa vào Thầy nên cái khó và cái khổ chưa bao giờ làm tắt niềm vui của chúng con trong  những giờ học tập, công phu với những đêm tối đen hay lung linh trăng sáng mà đường cước đường quyền sạt sạt trên nền đất sân chùa. Chúng con tuổi trẻ cũng lắm trò, nhưng Thầy vừa nghiêm lại vừa bao dung nên chúng con có thọ trách phạt cũng bằng tâm hoan hỉ, ký ân. Dưới cội Bồ đề chở che của Thầy, chúng con cứ hồn nhiên trưởng thành bằng sự thấm đẫm  tinh thần  cầu học để tu sửa mình, để tin và thấy đích đến của mình trên con đường tăm tắp xa.

    Con nhớ những ngày chỉ có Thầy và con ở Chùa, Thầy dạy con cách thỉnh Đại hồng chung   trên lầu chuông  để pháp âm không bao giờ đứt quãng, mãi giữ  yên bình trên một miền quê.  Nhờ phước duyên ấy mà con biết giữ cho mình một cuộc sống thiện lương trước những hỉ nộ tham sân trong từng bước đi giữa cõi đời này.

    Khi báo tin  Cha con đi, Thầy bùi ngùi: “ Cha con là người chỉ cần nói là Thầy hiểu, và Thầy mới nói là cha con hiểu.” Con biết Thầy dành tình thương cho con đến mức nào.

    Cha con đã dạy  con thành người tử tế, phải biết sống thế nào cho phải Đạo, cho phải lẽ nên mỗi hành vi trong đời sống của con luôn có bóng Cha và  lòng chưa bao giờ thôi khóc.

    Thầy ơi! Thầy dạy cho con nghiệm thông về sự chết để con hiểu lẽ vô thường, biết lấy cái vô thường năng đoạn vô thường, thế mà tâm lệ con chắc chẳng thôi rưng rưng trong quãng vô thường còn lại khi nhớ đến Thầy .

    Thầy ơi! ngày thầy đi con không về được để quỳ dâng nén hương thành tâm hành lễ. Nơi chốn xa, lòng rưng rưng con chỉ biết chắp tay hướng vào không trung đảnh lễ Thầy trong giờ phút Nhật – Nguyệt chẳng còn phân chia.

     Hữu duyên hạnh ngộ lời dạy của Thầy mãi miết  bao nhiêu năm,  đến khi nghe tin Thầy viên tịch con mới hốt nhiên ngộ ra. Trong Vô lượng Pháp con đã tìm được một Pháp tu tập là nhớ nghĩ về Thầy. Nhớ nghĩ về Thầy là nhớ nghĩ lời Thầy dạy, là nhớ nghĩ và sống theo đức hạnh tu tập của Thầy, như vậy cũng chính là đang tu theo Pháp Phật, là thấy Phật.

     Phải chăng đây là dấu tích cho con tìm Thầy khi “chết cho rồi”, dầu con là đệ tử chưa làm lễ Quy y, chưa có Pháp danh; nhưng con biết niệm “ Nam mô A Di Đà Phật” như Thầy đã dạy.

Nam mô A Di Đà Phật.

 Tháng 03 năm 2020

 Kính Thầy

 Con: Nguyễn Ngọc Hải

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/05/2021(Xem: 5771)
Đệ Tử chúng con, hàng hậu học Tỳ Kheo Thích Minh Thế- Huế thuộc Môn Phong Tổ Đình Từ Hiếu, được nhân duyên diện kiến Ngài 3 lần, một lần Chùa Bát Nhã, Lúc ở Chùa Hải Quang, trong mùa Huý Kỵ Ngài Nhật Lệ. Năm 2007-2008,2009,2010. Hay tại Chùa Quảng Hương Già Lam, nhân Huý kỵ Tôn Sư Thượng Trí Hạ Thủ- 2012-2014, tất cả đều ở Sài Gòn. Diện kiến Ngài là một lần học được tâm hạnh Khiêm cung, luôn lấy pháp Mật chú mà gia trì. Lấy giới luật mà dụng tu, lấy công phu trì niệm Pháp Hoa, Sám Lễ, Trì Chú Niệm Phật A Di Đà, để Huân nhiên chủng tánh. Diện kiến Ngài lúc nào cũng có chiếc gậy bên mình, vì đôi chân có phần chưa tốt, nên từ đó Diện kiến Ngài là đều hi hữu. Ngài từng dạy tại Trường Bồ Đề, nơi trú xứ Buôn Ma Thuột, giữ những lời dạy sâu sắc, tiếp nối truyền thừa lưu lại đàn hậu tấn về sau, các vị được thọ ân từ Ngài, giờ này cũng chấp cánh bay xa bên xứ ngoài, hay trong xứ, làm niềm vui an tịnh cho chính mình ở Bồ đề Tại xứ Buôn Mê. Ngài từng ngồi hành pháp
25/05/2021(Xem: 13406)
Đã nhiều năm rồi, Phật Tử Việt Nam cử hành đại lễ trong niềm hân hoan tự hào về một ngày lễ Vesak trọng đại được xưng danh một cách trang trọng là "Đại Lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc." Phật giáo là một trong bốn tôn giáo lớn của nhân loại. Con số Phật Tử dù vậy cũng chỉ khoảng 400-600 triệu. Với con số khiêm nhường đó, tiếng nói của Phật giáo không có ảnh hưởng gì đáng kể trong các quyết định của Liên Hiệp Quốc về vận mạng của các dân tộc trên thế giới. Phật Tử Việt Nam chính thức đón nhận "Đại Lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc" từ năm 2008. Từ đó đến nay, những phát biểu bởi các đại biểu từ nhiều nước tán dương Đức Phật quả là quá nhiều, nhưng chưa có bất cứ đóng góp thiết thực đáng kể nào cho khát vọng hòa bình của nhiều dân tộc bị áp bức, bóc lột bởi chính quyền của nước mình; bị đe dọa bởi tham vọng bá quyền của nước lớn.
22/05/2021(Xem: 10192)
Trưởng lão Hòa thượng tân viên tịch thế danh Nguyễn Thanh Bình, sinh năm Tân Mùi (1931) tại thôn Mỹ Duyệt Hạ, xã Thanh Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Như Hưng, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Huấn, Trưởng lão Hòa thượng là con thứ hai trong bốn anh em (hai trai hai gái). Lúc lên 11 tuổi (1942), được sự cho phép của song thân, Hòa thượng đến chùa Đặng Lộc đảnh lễ ngài Hòa thượng Thích Định Tuệ xin được xuất gia và được bổn sư ban cho pháp danh Lệ Chân, pháp tự Thiện Hạnh.
16/05/2021(Xem: 18692)
Nhận xét rằng, Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh gấp của lịch sử nhân loại. Đại dịch Covid-19 đã khép kín mỗi cá nhân trong một không gian chật hẹp, cách ly xã hội, cô lập cá nhân, cách ly cả những người thân yêu. Nó đã tạo ra những khủng hoảng tâm lý trầm trọng trong nhiều thành phần xã hội. Một số đông bị quẫn bức, không thể tự kềm chế, bỗng chốc trở thành con người bạo lực, gieo kinh hoàng cho xã hội. Một số khác, có lẽ là số ít, mà phần lớn trong đó là thanh thiếu niên, khởi đầu cũng chất đầy oán hận trong lòng, nhưng rồi trước ngưỡng sinh tử sự đại, tự mình phấn đấu tự kềm chế, cuối cùng đã khám phá chính mình, trong trình độ nào đó, với những giá trị nhân sinh chỉ có thể tìm thấy trong những cơn tư duy thầm lặng. Giá trị nhân sinh không thể tìm thấy bằng những cao trào kích động của tuổi trẻ. Thế hệ ấy sẽ làm thay đổi hướng đi của lịch sử Đông Tây qua hai nghìn năm kỷ nguyên văn minh Cơ-đốc, khi mà tín đồ có thể liên hệ trực tiếp với đấng Chí Tôn của mình qua mạng truyền
30/04/2021(Xem: 13278)
Thiền Uyển Tập Anh chép Đại sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu (933 – 1011) tu ở chùa Phật Đà, Thường Lạc nay là chùa Đại Bi núi Vệ Linh Sóc Sơn, Hà Nội. Ngài thuộc thế hệ thứ 4 Thiền phái Vô Ngôn Thông. Ngài người hương Cát Lợi huyện Thường Lạc, nay thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội, thuộc dòng dõi Ngô Thuận Đế (Ngô Quyền). Theo Phả hệ họ Ngô Việt Nam, Thiền sư Ngô Chân Lưu tên huý là Xương Tỷ, anh trai Thái tử - Sứ quân Ngô Xương Xý, con Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập, cháu đích tôn của Ngô Vương Quyền. Ngài dáng mạo khôi ngô tuấn tú, tánh tình phóng khoáng chí khí cao xa, có duyên với cửa Thiền từ năm 11 tuổi.
23/04/2021(Xem: 7271)
Hoà thượng Thích Từ Hương thế danh là Nguyễn Mạnh Trừng. Sinh ngày 20 tháng 6 năm 1928 tại thôn Vĩnh An, xã Mỹ Phong, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.Trong một gia đình phú nông. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Tiêm. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Chai pháp danh Nhật Cang. Từ lúc ra đời cho đến năm 1954, Hoà thượng ở tại quê nhà theo học tiểu học và sinh sống tại địa phương.
23/04/2021(Xem: 7066)
Hòa thượng Đạo hiệu Thích Thiện Duyên, thế danh Võ Đình Như, sinh ngày 20/10/1926 tại thôn Hội Vân, xã Cát Hiệp, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Ngài là con thứ 3 trong gia đình. Thân phụ và thân mẫu của Hòa thượng là cụ ông Võ Toản pháp danh Nhựt Toàn và cụ Bà Đặng Thị Chức pháp danh Diệu Phát. Gia đình Ngài có truyền thống Phật giáo thuần thành. Với túc duyên nhiều đời, từ nhỏ, Ngài thường được bà nội dẫn đến chùa làng tụng kinh niệm Phật. Gặp lúc Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Hòa từ chùa Trà Can, Tháp Chàm – Phan Rang về tổ chức lễ truyền Tam Quy Ngũ giới tại chùa Tịnh An, Phù Cát, Bình Định, Ngài sớm thọ Tam quy Ngũ giới trong dịp này.
11/04/2021(Xem: 12515)
Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Kính bạch Chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni, Kính thưa tất cả quý Phật tử trong và ngoài nước, Thiền viện Trúc Lâm Đại Đăng xin trân trọng kính báo: Thượng Toạ Thích Tuệ Giác, Hội trưởng Hội Thiền Học Việt Nam Hải Ngoại, Viện trưởng Tổ Đình Thiền viện Trúc Lâm Đại Đăng, Đã viên tịch vào lúc 4:30 chiều Thứ Bảy ngày 10 tháng 4 năm 2021 (nhằm 29 tháng 2 năm Tân Sửu) Tại Thiền viện Trúc Lâm Đại Đăng, Quận hạt San Diego, CA, Hoa Kỳ. Trụ thế 62 năm, 31 Hạ Lạp Chương trình Tang Lễ của Thượng toạ Thích Tuệ Giác sẽ được kính báo trong thời gian sớm nhất. Chúng con nhất tâm xin cung thỉnh Chư Tôn Thiền Đức và mời gọi quý Phật tử cùng chung lòng cầu nguyện. Thay mặt BTC Tang Lễ xin được trân trọng kính báo. Tỳ kheo Thích Tuệ Tỉnh
31/03/2021(Xem: 7886)
Trễ hẹn trong tang lễ, rồi cúng 21 ngày và 49 ngày cố nhạc sĩ Hằng Vang ( 1936 – 2021 ), một số Anh Chị em cựu huynh trưởng giữ đúng lời hứa, rất uy tín, lòng tự dăn lòng rằng nhất định sẽ họp mặt để cùng nhau thắp cho vị nhạc sĩ nén hương tưởng nhớ, tri ân những dòng nhạc mà phần lớn đã theo chân nhiều thế hệ Gia Đình Phật Tử ( GĐPT ) và các đoàn thể thanh thiếu niên Phật giáo, nối tiếp nhau cho đến tận hôm nay. Và ngày đó phải là ngày cúng chung thất 49 ngày, nhất định không hẹn xa xăm nửa. Sau khi loại trừ nhiều trở ngại, cộng vào nh74ng thuận duyên chung, tất cả đã chọn ngày chủ nhật 21/03/2021 9 nhằm ngày mùng 9 tháng hai năm Tân Sửu vừa rồi
10/03/2021(Xem: 7954)
Cố Hòa Thượng thế danh Đặng Hữu Tường, pháp húy Nguyên Phước, tự Quang Thể, hiệu Đạt Minh; nối pháp đời 44 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 10 pháp phái Liễu Quán. Ngài lâm thế ngày 19 tháng 9 năm Nhâm Tuất (1922) tại làng An Hải, quận III (nay là phường An Hải, quận Sơn Trà), thành phố Đà Nẵng; chánh quán làng Quảng Lăng, xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ Ngài là cụ ông Đặng Văn Vịnh (tức Nuôi) và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Ớt. Ngài là trưởng nam trong một gia đình có năm anh em gồm ba trai và hai gái. Năm lên 9 tuổi, thân phụ qua đời, từ đó mẫu thân một mình tần tảo nuôi con. Trong thời gian này, Ngài được mẫu thân gởi đến Thầy Tư Tri (Như Tín) – trụ trì chùa An Hải lúc bấy giờ – nhận cho nhập Chúng tu học.