Ai Nói Hòa Thượng Không Tu (thơ)

2/5/202007:46(View: 7071)
Ai Nói Hòa Thượng Không Tu (thơ)
ht truong minh (6)

AI NÓI HÒA THƯỢNG KHÔNG TU
 
Ai nói Hòa Thượng không tu
Ngỡ rằng Ngài chỉ mải lo chuyện đời
Thấy Ngài bệnh nặng khôn nguôi 
Mà luôn bận rộn thân thời chẳng yên
 
Nào hay truy tận ngọn ngành
Thân Ngài chất chứa bệnh tình đã lâu
Xá gì mạng sống, mong cầu
Chỉ cần hơi thở Ngài nào đòi hơn 
 
Vì lòng nghĩ đến quê hương 
Những người nghèo khổ neo đơn khốn cùng
Dành dụm tiền của cúng dường 
Ngài gởi về hết một lòng khuyên lơn 
 
Lắng nghe tâm sự nỗi lòng
Khuyên người tạo phước chi bằng tụng Kinh
Gởi tiền mua kệ thuốc men
Đàn con cháu Đạo ngoan siêng sớm chiều 
 
Hạt giống phước huệ Ngài gieo 
Từ từ nhiếp phục thương yêu hữu tình
Khuyên người nhớ niệm Phật danh
Quan Âm cứu khổ vãng sanh Di Đà
 
Khi Ngài tái bệnh vừa qua
Cơn đau như thể lột da xẻ người 
Lắc đầu bác sỹ bó tay 
Nhưng Ngài nào có bi ai trách trời 
 
Nhìn sâu nhân quả bao đời 
Lạc quan chấp nhận tứ thời oai nghi
Nụ cười hoan hỷ cũng vì
Không rời Phật hiệu đại bi mẫn từ
 
Ai nói Hòa Thượng không tu
Lấy thân tứ đại nhiếp thu căn trần
Tây Phương Tịnh Độ Đạo tràng
Bồ Tát thị hiện khó lường lắm thay
 
Con chỉ cung kính chắp tay
Mong Ngài nguyện ước rồi đây viên thành
Tại con niệm Phật phan duyên
Nên còn thấy có người hành kẻ không
 
Bao giờ phải trái hết còn
Nơi người thấy Phật như Thường Bất Khinh
Mắt nhìn chẳng chấp, luận bình
Mới hay Hòa Thượng thật tình đang tu
 
Ngài từ bi lắm xưa giờ 
Để cho tứ chúng tha hồ trách chê
Lặng thinh nhẫn hết mọi bề
A Di Đà Phật con về Tây Phương
 
Ai nói Ngài chẳng nhiếp tâm
Bệnh đau mà vẫn vác thân gởi đồ 
Quan Âm rải nước cam lồ
Di Đà năng độ phát Bồ đề tâm
 
Không chừng Ngài muốn khuyên răn
Bồ đề tâm mới là đang tu hành
Nào phải niệm Phật liên miên 
Mà quên đi mất sanh linh hữu tình?
 
Không chừng Ngài bệnh triền miên 
Để cho tứ chúng nhân duyên bi từ 
Như Kinh Địa Tạng khuyến tu
Vì người bệnh khổ chăm lo hết lòng?
 
Nhân duyên quả thật khó lường 
Hôm nay Tịnh Độ Đạo tràng đồng quy (*)
Gần xa Liên hữu đổ về 
Trước thăm Hòa Thượng vai kề Diệu Âm.
 
2018/06/19 (Mộng Lệ An)
Nghiệp Huân Dương
 
(*) Chiều nay, 19/06/2018, Đạo tràng Tây Phương Tịnh Độ ở Blvd Des Sources
sinh hoạt trở lại sau một thời gian gián đoạn vì Hòa Thượng bệnh.
 
Hình chụp Hòa Thượng hôm 17/06/2018 ở Đạo tràng Tây Phương Tịnh Độ của Ngài ba ngày sau khi xuất viện.
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
8/7/2011(View: 17677)
Nói đến tinh thần "Hòa quang đồng trần" tức là nói đến tinh thần nhập thế của đạo Phật, lấy ánh sáng của đức Phật để thắp sáng trần gian, “sống trong lòng thế tục, hòa ánh sáng của mình trong cuộc đời bụi bặm”, và biết cách biến sứ mệnh đạo Phật thành lý tưởng phụng sự cho đời, giải thoát khổ đau cho cá nhân và xã hội. Thời đại nhà Trần và đặc biệt vua Trần Nhân Tông (1258-1308) đã làm được điều này thành công rực rỡ, mở ra trang sử huy hoàng cho dân tộc.
8/4/2011(View: 9235)
Hòa thượng Thích Bích Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Hoằng đạo, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam; nguyên Chánh Đại Diện GHPGCT Trung phần, Tổ thứ 3 Tổ đình Nghĩa Phương, Tổ Khai sơn các chùa thuộc Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương, Tông trưởng Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương (1921 - 1972).
7/30/2011(View: 10501)
Thế danh: Nguyễn Đình Mân, Pháp danh: Thị Uẩn, Pháp tự: Hạnh Đạo, Pháp hiệu: Thuần Phong, Đời thứ 42 thuộc dòng Thiền Lâm Tế.
7/28/2011(View: 8897)
Hòa Thượng Thích Đạt Hảo, Hòa thượng Thích Đạt Hảo thế danh Lê Văn Bân, pháp danh Tánh Tướng, pháp hiệu Đạt Hảo, sanh năm Đinh Tỵ (1917), tại ấp Bình Hữu, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Gia Định (1). Sư là con út trong gia đình có 6 anh chị em, 2 người trai bốn người gái; đặc biệt cả nhà có 8 người đều lần lượt xuất gia tu hành: -Phụ thân Lê Văn Bộn (1876- 1943), pháp danh Tánh Từ, pháp hiệu Đạt Bi. -Mẫu thân Ngô Thị Cờ (1884-1941), pháp danh Tánh Niệm, pháp hiệu Đạt Phật. -Chị thứ 2 Lê Thị Tình (1901-1970), pháp danh Tánh Hóa, pháp hiệu Đạt Đạo. -Chị thứ 3 Lê Thị Ưa (1904- ?) pháp danh Tánh Viên, pháp hiệu Đạt Thông. -Chị thứ 4: Lê Thị Luận (1907- ?), pháp danh Tánh Minh, pháp hiệu Đạt Quang. Chị thứ 5 Lê Thị Nghị (1909- ?), pháp danh Tánh Hồng, pháp hiệu Đạt Tâm -Anh thứ 6 Lê Văn Kỉnh (1915-1962), pháp danh Tánh Kỉnh, Pháp hiệu Đạt Xương. -Em út là Hòa thượng Thích Đạt Hảo.
7/15/2011(View: 9598)
Thiền sư húy thượng NGUYÊN hạ BÀNG - ĐẠI NGUYỆN tự CHÍ NĂNG hiệu GIÁC HOÀNG , thế danh LÊ BẢN, sinh năm Canh Dần 1950, tại thôn An Ngãi, xã Nhơn An huyện An Nhơn tỉnh Bình Định. Ngài sinh trong một gia đình nhiều đời sùng kính Tam Bảo. Thân phụ: Cụ ông LÊ TRÀ, thân mẫu: Cụ Bà TRẦN THỊ TÁM. Ngài là anh cả trong gia đình gồm có năm người con.
6/24/2011(View: 9905)
Vua Lê Đại Hành mất vào năm 1005, các hoàng tử tranh giành ngôi vua tạo nên cảnh khổ đau tràn ngập cho Dân Tộc, bên trong bị nội loạn, bên ngoài bị ngoại xâm đe dọa. Trước những thảm trạng đen tối u ám và đầy dẫy những thống hận đó, Vạn Hạnh thiền sư xuất hiện như một thứ ánh sáng phi thường quét sạch vùng trời giông tố để đưa vận nước bước vào thời đại huy hoàng thịnh trị.
6/24/2011(View: 9329)
Trận chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Vương Quyền năm 939 là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử dựng nước của Việt Nam. Ngọn sóng Bạch Đằng Giang đã cuốn trôi đi nỗi đau nhục của người dân nô lệ, nhận chìm tham vọng của nòi Hán áp đặt lên đất nước ta trong suốt một ngàn năm. Từ đây Việt Nam không còn là một huyện lỵ của người Hán, từ đây một quốc gia đúng nghĩa đã xuất hiện dưới vòm trời Đông Á.
6/24/2011(View: 11606)
Ngài họ Nguyễn húy là Hữu Kê, dòng họ của Đại thần Nguyễn Trãi. Nguyên quán thuộc Tông sơn Gia miêu Ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa. Ngài thọ sanh năm Nhâm Tý (1912), tại làng Nguyệt Biều, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Vốn thọ sanh trong gia đình vọng tộc, quý phái, thích lý luận Nguyễn Hữu Độ.
6/24/2011(View: 8358)
Ngài Mật Thể, pháp danh Tâm Nhất, pháp tự Mật Thể, tên thật là Nguyễn Hữu Kê, sinh năm 1912 ở làng Nguyệt Biều, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Chánh quán huyện Tống Sơn, Gia Miêu ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa, thuộc dòng Thích Lý của Cụ Nguyễn Hữu Độ. Gia đình Ngài qui hướng đạo Phật, cụ thân sinh và người anh ruột đều xuất gia.
6/23/2011(View: 9147)
Đọc Thánh Đăng Ngữ Lục, do Sa môn Tánh Quảng, Thích Điều Điều đề tựa trùng khắc, tái bản năm 1750, ta thấy đời Trần có năm nhà vua ngoài việc chăn dân, họ còn học Phật, tu tập và đạt được yếu chỉ của thiền, như vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông. Và sự chứng ngộ của các Thiền sư đời Trần thì không thấy đề cập ở sách ấy, hoặc có đề cập ở những tư liệu khác mà hiện nay ta chưa phát hiện được, hoặc phát hiện thì cũng phải tra cứu và luận chứng dài dòng rồi mới kết đoán ra được.