Ai Nói Hòa Thượng Không Tu (thơ)

05/02/202007:46(Xem: 7052)
Ai Nói Hòa Thượng Không Tu (thơ)
ht truong minh (6)

AI NÓI HÒA THƯỢNG KHÔNG TU
 
Ai nói Hòa Thượng không tu
Ngỡ rằng Ngài chỉ mải lo chuyện đời
Thấy Ngài bệnh nặng khôn nguôi 
Mà luôn bận rộn thân thời chẳng yên
 
Nào hay truy tận ngọn ngành
Thân Ngài chất chứa bệnh tình đã lâu
Xá gì mạng sống, mong cầu
Chỉ cần hơi thở Ngài nào đòi hơn 
 
Vì lòng nghĩ đến quê hương 
Những người nghèo khổ neo đơn khốn cùng
Dành dụm tiền của cúng dường 
Ngài gởi về hết một lòng khuyên lơn 
 
Lắng nghe tâm sự nỗi lòng
Khuyên người tạo phước chi bằng tụng Kinh
Gởi tiền mua kệ thuốc men
Đàn con cháu Đạo ngoan siêng sớm chiều 
 
Hạt giống phước huệ Ngài gieo 
Từ từ nhiếp phục thương yêu hữu tình
Khuyên người nhớ niệm Phật danh
Quan Âm cứu khổ vãng sanh Di Đà
 
Khi Ngài tái bệnh vừa qua
Cơn đau như thể lột da xẻ người 
Lắc đầu bác sỹ bó tay 
Nhưng Ngài nào có bi ai trách trời 
 
Nhìn sâu nhân quả bao đời 
Lạc quan chấp nhận tứ thời oai nghi
Nụ cười hoan hỷ cũng vì
Không rời Phật hiệu đại bi mẫn từ
 
Ai nói Hòa Thượng không tu
Lấy thân tứ đại nhiếp thu căn trần
Tây Phương Tịnh Độ Đạo tràng
Bồ Tát thị hiện khó lường lắm thay
 
Con chỉ cung kính chắp tay
Mong Ngài nguyện ước rồi đây viên thành
Tại con niệm Phật phan duyên
Nên còn thấy có người hành kẻ không
 
Bao giờ phải trái hết còn
Nơi người thấy Phật như Thường Bất Khinh
Mắt nhìn chẳng chấp, luận bình
Mới hay Hòa Thượng thật tình đang tu
 
Ngài từ bi lắm xưa giờ 
Để cho tứ chúng tha hồ trách chê
Lặng thinh nhẫn hết mọi bề
A Di Đà Phật con về Tây Phương
 
Ai nói Ngài chẳng nhiếp tâm
Bệnh đau mà vẫn vác thân gởi đồ 
Quan Âm rải nước cam lồ
Di Đà năng độ phát Bồ đề tâm
 
Không chừng Ngài muốn khuyên răn
Bồ đề tâm mới là đang tu hành
Nào phải niệm Phật liên miên 
Mà quên đi mất sanh linh hữu tình?
 
Không chừng Ngài bệnh triền miên 
Để cho tứ chúng nhân duyên bi từ 
Như Kinh Địa Tạng khuyến tu
Vì người bệnh khổ chăm lo hết lòng?
 
Nhân duyên quả thật khó lường 
Hôm nay Tịnh Độ Đạo tràng đồng quy (*)
Gần xa Liên hữu đổ về 
Trước thăm Hòa Thượng vai kề Diệu Âm.
 
2018/06/19 (Mộng Lệ An)
Nghiệp Huân Dương
 
(*) Chiều nay, 19/06/2018, Đạo tràng Tây Phương Tịnh Độ ở Blvd Des Sources
sinh hoạt trở lại sau một thời gian gián đoạn vì Hòa Thượng bệnh.
 
Hình chụp Hòa Thượng hôm 17/06/2018 ở Đạo tràng Tây Phương Tịnh Độ của Ngài ba ngày sau khi xuất viện.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 9327)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
09/04/2013(Xem: 10795)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 11489)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 14042)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 9238)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.
09/04/2013(Xem: 15265)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8884)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 9400)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
09/04/2013(Xem: 10595)
Hòa thượng Hộ Tông (1893-1981), Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinhngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trongmột gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị Giêng.
09/04/2013(Xem: 9314)
Hòa Thượng họ Nguyễn, Húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngày sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức Huế.