Thông Bạch Xuân Canh Tý 2020 (của Hòa Thượng Hội Chủ Thích Bảo Lạc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan)

15/01/202006:04(Xem: 10817)
Thông Bạch Xuân Canh Tý 2020 (của Hòa Thượng Hội Chủ Thích Bảo Lạc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan)

letter head_Giao Hoi Uc Chau_2019_2023Số 08-6/HĐĐH/HC/TB                                                           Phật lịch 2564, Sydney 15/01/2020



THÔNG BẠCH XUÂN CANH TÝ

của Hòa Thượng Hội Chủ Thích Bảo Lạc

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan

 

Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật.

Kính gởi: Chư Tôn Hòa Thượng, Chư Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni,

Quý vị lãnh đạo Tôn giáo, Cộng đồng, Đoàn thể, Cơ quan Truyền thông,

Quý thân hào nhân sĩ, Thiện hữu trí thức,

Cùng quý Đồng hương và chư Thiện nam Tín nữ Phật tử.

Kính bạch Chư Tôn Đức,

Kính thưa quý vị,

Mùa Xuân lại về trên xứ Úc, mừng năm mới Canh Tý 2020, Phật lịch 2564, thay mặt Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan, chúng tôi xin có lời ân cần thăm hỏi và kính chúc mừng năm mới vô lượng an lạc, vô lượng cát tường đến Chư vị Trưởng Lão, Chư Tôn Hòa Thượng, Thượng Tọa, Ni Trưởng, Ni Sư, Đại Đức Tăng Ni, quý vị lãnh đạo Tôn giáo, Đoàn thể, Cơ quan, quý Đồng hương, chư Phật tử trong và ngoài Úc Châu.

Tết đến mang màu sắc và hương Xuân vào lòng người, dù ở bất cứ vị trí hay hoàn cảnh nào, chúa Xuân vẫn hiện hữu. Ngay tại Úc quốc với mùa Hè nắng chói chang, không có mai đào khoe sắc thắm, nhưng trong tâm tưởng của người con dân Việt, ai ai cũng đều nô nức, hân hoan chào đón mùa Xuân nhân loại, hay còn gọi là tết Nguyên Đán. Nguyên là khởi đầu, Đán là buổi ban mai. Tết Nguyên Đán là dịp đón chào ngày đầu năm, một niềm ước mơ mới, hy vọng mới với tất cả sự mới mẻ trong tâm hồn và thế giới bên ngoài. Xuân mới mang đến cho mọi người, mọi nhà cùng muôn loài vạn vật những gì tốt đẹp nhất cho cuộc sống; còn đối với người con Phật thì mùa Xuân ấy, chính là Xuân Di Lặc: Hỷ xả, Từ bi.

Tết cũng là dịp Mừng Xuân Di Lặc, vì rằng ngày Khánh đản Đức Phật Di Lặc đúng vào ngày Mùng Một Tết, Ngài xuất hiện giữa mùa Xuân của nhân thế. Đó là hóa thân của vị Giáo Chủ tương lai nơi thế giới Ta bà này. Ngài Di Lặc tu hạnh Từ bi tam muội, tâm luôn tỏa chiếu ánh sáng của tình thương yêu trong lành, bao dung và phát nguyện cứu độ muôn loài.  Khi tình thương tròn đầy thì sự hiểu biết chân thật tỏ rạng, cho nên tâm luôn an vui tự tại trước mọi biến thiên, đổi thay trong cuộc đời.

Ngày đầu năm người người đi chùa lễ Phật và hái lộc xuân, không phải chỉ cầu xin để được giàu sang, phú quý, mà chính là để học hạnh Hoan Hỷ và Từ Bi của Bồ Tát Di Lặc, với ước nguyện những phẩm tính này luôn thẩm thấu vào đời sống của mình suốt ba trăm sáu mươi lăm ngày trong năm.

Giáo Hội chúng ta đã trải qua 5 nhiệm kỳ từ 1999 và vừa tổ chức thành công Đại Hội Khoáng Đại lần thứ VI, nhiệm kỳ 2019-2023, qua Hiến Chương tu chính và Quyết Nghị Đại Hội gồm 6 điểm làm nền tảng phát triển vững chắc cho Tổ Chức trong bốn năm tới, trong đó Giáo Hội quan tâm và đẩy mạnh hai Phật sự chính: An Cư Kiết Hạ giữa năm của Chúng xuất gia và tổ chức Khóa Tu Học Phật Pháp cuối năm cho hàng Phật tử tại gia. Ngoài ra, Giáo Hội luôn tri ân và bảo vệ đất nước Úc Đại Lợi đã cưu mang, nên cùng chung tâm nguyện đóng góp, vun bồi ngày càng hưng thịnh theo tinh thần của Phật Giáo nơi xứ sở đa văn hóa này.

Năm Kỷ Hợi sắp khép lại với bao thử thách đe dọa đến sự cộng tồn của chúng ta mà mọi người phải hứng chịu. Có thể nói đó là một năm đầy biến động xảy ra khắp mọi nơi và trên toàn thế giới: Thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh, núi lửa, và nhất là nạn cháy rừng làm ảnh hưởng nghiêm trọng môi trường sinh thái, khiến hàng trăm gia đình lâm cảnh khốn khổ tại New South Wales, Queensland, Victoria, và South Australia. Giáo Hội và các tự viện thành viên sắp tới sẽ có phái đoàn ủy lạo để an ủi những nạn nhân hỏa hoạn vừa qua. Mặt khác, hơn bao giờ hết, người đệ tử Phật nên an trú trong đời sống đạo hạnh, hiểu biết văn minh, bảo vệ môi sinh, ung dung dấn thân vào đời để lăn chuyển bánh xe Chánh Pháp, mong cho đời bớt khổ thêm vui.

Với tinh thần đó, chúng tôi tin tưởng rằng Giáo Hội của chúng ta từng bước thực hiện nhiều hoạt động Phật sự tích cực hơn, nhằm trang nghiêm Giáo hội và lợi lạc hữu tình. Mỗi Tăng Ni, Phật tử hãy trau giồi giới đức, như những bông hoa hương sắc tô thắm Mùa Xuân Đạo Hạnh

Nhân dịp đầu năm mới Canh Tý, xin chúc nguyện Chư Tôn Đức Tăng Ni Pháp lạc thường nhiên, Đạo tâm kiên cố, Đạo quả chóng thành. Kính chúc quý Đồng Hương Phật tử niềm hỷ lạc Tết cổ truyền dân tộc, cùng toàn thể quý vị Xuân quang rực rỡ, Xuân tâm như ý.

Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Hội Đồng Điều Hành
Hội Chủ
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/03/2013(Xem: 8584)
Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.
11/03/2013(Xem: 8766)
Lê Quý Đôn (1726-1784) là một danh sĩ, nhà văn hóa, sử gia, sống vào đời Hậu Lê. Ông không những ba lần thi đều đỗ đầu, kinh qua nhiều chức quan, đã từng đi sứ sang Trung Quốc, mà còn là một nhà bác học, đã để lại một gia tài đồ sộ bao gồm khoảng 16 tác phẩm và nhiều thơ, phú bằng chữ Nôm khác. [1] Trong số những tác phẩm ấy, có Kiến văn tiểu lục, [2] là một tác phẩm dành riêng quyển 9 – thiên Thiền dật, để viết về Phật giáo và Thiền tông Phật giáo Việt Nam, chủ yếu là những vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc lâm. Trong bài viết ngắn này, chúng ta thử chỉ tìm hiểu quan điểm của Lê Quý Đôn về Phật giáo, mà không bàn sâu đến phần Thiền tông Việt Nam mà ông đã chép.
21/02/2013(Xem: 9714)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng giáo và Phật giáo.
19/02/2013(Xem: 11502)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 13004)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24242)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10279)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8661)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8575)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8526)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.