Giữ Tâm Đại Nguyện (thơ)

02/01/202010:07(Xem: 12245)
Giữ Tâm Đại Nguyện (thơ)
ht tri quang 1923-2019
Giữ Tâm Đại Nguyện.

Thét gầm sư tử trùng duyên,
Gá thân mở lối, giữa huyền thiền môn.
In lời nguyện ước Thế Tôn,
Ba y nhất xứ, nhã ngôn thét gầm.

Quyện thân tuyệt thực Trăm tầm,
Gối tri tuệ giác, giữa trần hồng say.
Dịch từng con chữ đông đầy,
Lời ca Đức Phật, Tổ Thầy bảo ban.

Dụng hành kinh Pháp Hoa Trang,
Kinh văn Thủy Sám, Cú đàm Nam Tông.
Lương Hoàn Sám nguyện truy phong,
Lạy từng Vạn Phật, nối dòng Luật Nghi.

Dự thời Nạn Pháp ba thì,
Giữ tâm địa nguyện, huyền vi Đạo Tình.
Rung thời xứ Mỹ rung rinh,
Ngôn Thông Mật giáo, Luật Kinh Luận hàm.

Sám mươi năm kiết thất tràm,
Ấn Quang Một thữa, niệm ngàn Tu Bi.
Già Lam chốn tuệ đến đi,
Tu trì mật ngữ, khắc ghi lời Thầy.

Từ Đàm ấn giã huyền mây,
Phổ Minh thế Phát, y bay pháp huyền.
Dung từ áng nhật chân nguyên,
Gởi thân tạm giã, chuyến thuyền liên hoa.

Trà Tỳ lửa bốc uy toà,
Xá Lợi Thủ Ngọc, dung hoà nhân duyên.
Mây trời đất ước mộng bền,
Cung tiễn Thượng Trí, dạo niềm Lạc Bang.

Lưu trang Ngọc tuệ y vàng,
Thiên từ Ân hạnh, dung hành phụng thi.
Quang thượng hạ Tịnh khắc ghi,
Mây từ uy giáo, hành trì Đạo Mâm.

Năm mươi ngày vọng Thượng Nhân,
Tháp uy hùng Nhập, duyên trần mãn viên.
Cố Đô lưu ảnh chân huyền,
Ngầm bay phụng chiếu, thượng niềm thong dong.

          - Cung Kính Khể Thủ:
          Chúng con hàng hậu học ngu huyền, duyên gặp và đảnh lễ trong chốn Già Lam, nơi Cố Thượng Nhân Tôn Sư lưu dấu.
Đến đi như đúng nghĩa thét gầm, tu như kim cang bất hoại, giới hành nhượng đàn thâu, Từ như uy hùng, Nhơn như tâm sáng lộng vầng trăng.
          Giới kinh thông tuệ, giữ gìn phẩm hạnh như nền tảng căn bản, Phật Giáo Việt, giữa Niềm Nam Trung lưu nhớ, trang sử bi hùng luôn là diềm mối khắc ghi cho chúng con học từ Thượng Nhân Tôn Sư.
          Hôm nay, ngày 01-12-Kỷ Hợi, là ngày Chung Thất, theo di nguyện, trầm hùng đúng lời dạy kính lễ và bảo tháp từ nhạc trời cung tiễn dấu chân Ngài Thượng Nhân Tôn Sư nhập huyền tháp.
         "Phụng Vị Tối Thắng Tử Thiền Minh thượng Trí hạ Quang Tỳ Kheo Chi Vị."
          Con Tk: Thích Minh Thế, kẻ hậu học hiền ngu, quỳ dưới Phật Đài, chấp bút ứng thơ, dâng ngài, chúng con nguyện Cố Thựơng Nhân Tôn Sư, Thượng Phẩm Hoa Liên, an trú hồi nhập cho chúng con trí tuệ xưa.
             
 Tk: Thích Minh Thế
 Hỷ Tâm Hải Triều
Cảm tác ngày 26-12-2019, (01-12- Kỷ Hợi ),tại chùa Liên Hoa, thuộc thành phố San Antonio- Mỹ Quốc.
Trong khoá tu kiết đông.
Ngồi dưới ánh nắng trong cơn lạnh bên hiên chùa Liên Hoa.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 14196)
Đại Lão Hoà Thượng Pháp danh Thượng Quảng Hạ Liên, Tự Bi Hoa, Hiệu Trí Hải thế danh Nguyễn Văn Chính, sinh năm 1926 – Bính Dần tại Sông Cầu – Tỉnh Phú Yên, trong một gia đình túc nho, tiểu thương, giàu lòng kính tin tam bảo, Hoà thượng là con thứ 8 trong gia đình với 09 Anh Chị Em được thân phụ là Cụ Ông Nguyễn Văn Phân – PD. Nhựt Minh và thân mẫu là cụ bà Võ Thị Dưỡng – PD.
10/04/2013(Xem: 9164)
Ngài thế danh là Nguyễn Xuân pháp danh Thanh Phong pháp tự Hoàng Thu hiệu Như Nguyện. Sinh ngày 01/06/1937 tai thôn Phú Cấp xã Diên Phú huyện Diên Khánh tinh Khánh Hoà. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Ðối thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Lẻo pháp danh Trừng Lan. Ngài là anh cả trong 4 anh em.
10/04/2013(Xem: 14225)
Viết thêm một bài về Ngài Thiện Minh, dù nhiều vị đã viết - Viết, vì thấy thêm một bài của Tâm Nguyên trên diễn đàn baovechanhphap - Viết, vì Mùa Hạ 2009, tịnh niệm An Cư, tưởng nhớ tiền nhân, làm gì cho hôm nay, và nhắc nhở hậu bối mai sau Tương chao nhà quê Tăng Lữ
10/04/2013(Xem: 11945)
Hòa Thượng Thích Tắc Thành - Trình bày: Chiếu Quang và Hoàng Lan
10/04/2013(Xem: 8851)
Hòa thượng thế danh Võ Văn Nghiêm, pháp danh Giác Trang, hiệu Hải Tràng thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông, đời thứ 41, sinh năm Giáp Thân (1884) tại làng Tân Quí, tổng Phước Điền Thượng, tỉnh Chợ Lớn. Thân phụ là cụ ông Võ Văn Nghĩa, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Tín. Ngài sinh trưởng trong một gia đình tín ngưỡng Tam Bảo thuần thành. Thân phụ Ngài là một vị hương chức trong làng, lúc tuổi ngũ tuần xin từ chức để xuất gia hiệu là Thanh Châu, đến 75 tuổi được phong Giáo thọ, sáng lập chùa Vạn Phước tại làng Tân Chánh, huyện Hốc Môn, Sài gòn. Ngài có hai anh em trai, người anh cả xuất gia được tấn phong Hòa thượng, hiệu Chơn Không.
10/04/2013(Xem: 7776)
Hòa Thượng THÍCH BẢO AN, húy thượng THỊ hạ HUỆ tự HẠNH GIẢI, thế danh LÊ BẢO AN, thuộc đời Lâm Tế Chánh Tông thứ Bốn mươi hai. Nguyên Hòa Thượng sanh năm 1914 (Giáp dần), tại thôn Tịnh Bình, xã Nhơn Hạnh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh, trong gia đình Lê gia thế phiệt, vốn dòng môn phong Nho giáo, đời đời thâm tín Tam Bảo, tôn sùng Ðạo Phật. Thân phụ là cụ ông LÊ PHÚNG, pháp danh NHƯ KINH, thân mẫu cụ bà TỪ THỊ HỮU, pháp danh NHƯ BẰNG, đức mẫu là cụ bà NGUYỄN THỊ CƠ, pháp danh NHƯ DUYÊN.
10/04/2013(Xem: 8896)
Hòa Thượng Thích Thiện Thanh thuộc dòng thiền Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 41, thế danh Nguyễn Văn Sắc, nguyên quán làng Phú-Nhuận, Nha-Mân, tỉnh Sa-Ðéc miền Nam nước Việt (nay thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp), sinh Năm Ất Hợi (1935) Niên hiệu Bảo Đại năm thứ 20. Song thân Ngài là Cụ Nguyễn Văn Xướng và Cụ Bà Huỳnh Thị Thâu đều kính tin Tam Bảo.
10/04/2013(Xem: 12700)
H.T. Thích Nhật Minh hiệu Vĩnh Xuyên thuộc dòng Phi Lai đời thứ 41, sau cầu pháp với Thiên Thai Thiền Giáo Tông được ban pháp tự Nguyên Quang, thế danh là Đặng Ngọc Hiền, sinh năm Kỷ Sửu (1949) tại xã Khánh An, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Thân phụ là Cụ ông Nguyễn Văn Tá, Thân mẫu là Cụ Trần Thị Ngọc Anh, Hòa Thượng là con út trong gia đình có bốn anh em, mới hơn một tháng tuổi Hòa Thượng đã phải mồ côi mẹ nên được gửi cho Cô ruột là Cụ bà Nguyễn Thị Đền pháp danh Tâm Đền tự Diệu Hoà.....
10/04/2013(Xem: 9057)
Hòa Thượng húy Lê Thùy, pháp danh Thị Năng, tự Trí Hữu, hiệu Thích Hương Sơn, sinh năm Quí Sửu (1912) tại làng Quá Giáng, huyện Điện Bàn (Hòa Vang) tỉnh Quảng Nam trong một gia đình Nho học và tin Phật. Thân phụ: Lê Cát, Thân Mẫu: Kiều Thị Đính, có mười hai người con; Ngài là con thứ bảy trong gia đình.
10/04/2013(Xem: 10834)
Đại lão Hòa Thượng THÍCH HUỆ QUANG, húy thượng Không hạ Hành, tự Từ Tâm, hiệu Huệ Quang, thuộc dòng Lâm Tế chánh tông đời thứ 41. Thế danh Dương Quyền. Ngài sinh ngày 10 tháng 01 năm Đinh Mão (1927) tại thôn Phước Hải, huyện Vĩnh Xương, tỉnh Khánh Hòa.