Một Chữ Duyên

21/12/201911:05(Xem: 6526)
Một Chữ Duyên

MỘT CHỮ DUYÊN

Bắt đầu từ một chữ duyên do lòng tôi (Tịnh Bình) và bà xã Quảng Trí (tiểu bang Connecticut) luôn hướng nguyện muốn được thực hiện một chuyến hành hương đất Phật. Từ trang nhà www.huongsentemple.com và Thư Viện Hoa Sen, có thông báo tổ chức 3 đoàn hành hương đi năm quốc gia Phật giáo trong đó đoàn số 2 đi Ấn Độ là chính do ni sư Giới Hương - Trụ trì chùa Hương Sen tại nam California, thành phố Perris hướng dẫn, thế là chúng tôi liên lạc ghi danh Qua trang nhà website huongsentemple, chúng tôi biết được: Ni sư TN Giới Hương là một vị xuất gia uyên bác qua sở học và công phu hành trì nghiêm mật theo truyền thống cố sư bà Hải Triều Âm, một vị ni trưởng Bắc Đẩu của ni giới Việt Nam, nên chúng tôi rất phấn khởi muốn tham gia.

Đoàn được 21 vị từ nhiều tiểu bang của Hoa Kỳ đi thăm Phật Bà Quan Âm Nam Hải, núi Phổ Đàn và sau đó đi về Ấn Độ thăm Phật tích. Dưới sự sắp xếp khéo léo của Ni sư trưởng đoàn, chuyến đi thuận duyên, không vất vả, sức khoẻ tốt và ngày nào cũng được tụng kinh, pháp đàm, đi nhiễu niệm Phật và nghe lịch sử về di tích. Ni sư cũng kêu gọi cả ba đoàn thực hiện các công cuộc từ thiện đóng góp tịnh tài cho một trường cấp một tại Kushinagar nơi Đức Phật nhập niết bàn, phân phát nhu yếu phẩm và thực phẩm cho 150 gia đình tại nhà khách cũng là tu viện của Hoà thượng tiến sĩ Sudmeda tại Sarnath. Với tâm từ, hoà thượng đã đích thân đưa đoàn chúng tôi thăm vườn nai Sarnath và ngài  giải thích một số địa điểm có tính đặc biệt trong lịch sử Phật giáo và ban quà lưu niệm cho đoàn chúng tôi trước khi giã từ về Mỹ. Ngoài việc thăm viếng tứ động tâm, một điểm son đáng nhớ khác là đoàn chúng tôi đã đi thăm viếng và tặng quà cúng dường lên 27 vị quý thầy cô tăng ni Việt Nam du học tại trường đại học New Delhi với sự tổ chức tiếp đón của Giáo sư Thượng toạ Thích Hạnh Chánh - Chủ tịch hội sinh viên phân khoa Phật Học. Chúng tôi biết với công đức cúng dường này, đoàn sẽ gặt nhiều thuận duyên phát sinh phước báu trí tuệ vì chư tôn đức tăng ni du học sinh là những vị đang gieo mầm hạt giống trí giác Phật. Qua buổi trò chuyện  thăm viếng, chúng tôi biết ra năm xưa ni sư cũng theo học đại học Delhi này trong mười năm (1995-2005) cùng thời với thượng toạ Hạnh Chánh tuy nhiên thượng toạ đã ở lại Delhi để dạy học, còn Ni sư Giới Hương tiếp tục du học Mỹ.

 Tại đây tấm lòng và nguyện vọng của ni sư được bày tỏ rõ ràng: ni sư không quên ngôi trường cũ thân thương và sự khó khăn của các thế hệ tu sinh sau, nên đã tổ chức chuyến hành hương Ấn Độ cũng nhằm mục đích thăm viếng và khuyến khích tinh thần các quý thầy cô tăng ni sinh trong tình đạo thắm thiết, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm học đại học học Mỹ, chương trình Cử Nhân Văn Chương và hoằng Pháp tại Hoa Kỳ. Ni sư ngỏ ý hướng dẫn và giúp đỡ chỗ ăn ở cho các vị, đặc biệt Ni giới, sau khi tốt nghiệp tại Ấn Độ nếu muốn qua đây đi theo con đường du học của ni sư.

Trở lại chuyến hành trình hành hương, sự kham nhẫn nhân sự, khí hậu, môi trường, thực phẩm, sức làm việc và tấm lòng từ ái của ni sư Giới Hương, khiến chúng tôi vô cùng khâm phục. Đây là sự biểu hiện thầm lặng của công phu tu tập và đại hoằng thệ nguyện rõ ràng qua các quan tâm thăm viếng của Ni sư đến các thế hệ sau này. Ni sư có chương trình xây dựng một Ni viện tại vùng đất thuộc cơ sở chùa Hương Sen, để đào tạo chư ni tương lai, nối tiếp các bậc tiền bối quảng bá hoằng pháp độ sinh, đem ánh sáng trí tuệ của Đức Bổn Sư ra ngoài phạm vi cộng đồng Phật tử Việt Nam. 

Ni sư hướng dẫn tu tập đạo giác ngộ để phục vụ nhân sinh. Sự nghiệp viết sách, thi, nhạc, du hành thuyết Pháp nhiều nơi trong và ngoài nước trong đó có cho các tù nhân tại các trại tù Hoa Kỳ cùng chương trình dạy các lớp Phật học tại các học viện Phật học tại Việt Nam. Với lộ trình rõ ràng cùng lời sách tấn, nâng đỡ,  ni sư là nguồn sức mạnh tinh thần cho nhiều vị ni trên thế giới và ở quê nhà, nguyện theo bước chân ni sư giáo thế độ sinh. Chúng tôi vô cùng tri ân ni sư đã khó công tổ chức chuyến hành hương đất Phật, thăm viếng bốn động tâm liên quan đến cuộc đời đức Phật (đản sinh, thành đạo, chuyển bánh xe Pháp và nhập Niết Bàn) để tự thân cảm nghiệm các thánh tích thiêng liêng như được đề cập trong kinh sách, để phát sinh chánh tín mạnh mẽ bất động nơi ba ngôi Tam Bảo. Thêm vào đó trong suốt chuyến hành hương, mười lăm ngày ngoài trừ thời gian ngủ đã có trọn đủ mười hạnh lành tuỳ duyên, tuỳ hoàn cảnh, để hành xử làm sinh khởi thiện tâm như các hạnh bố thí, trì giới, tu tiến hành tứ niệm xứ, được cung kính cúng dường, và gần gũi bậc xuất gia đáng kính, thường xuyên được nghe ni sư giảng Pháp trên các chuyến xe di chuyển đường xa, chúng tôi có nhiều cơ hội chia xẻ kinh nghiệm Pháp học và hành cùng các vị Pháp lữ của hai đoàn 1 và 2 hợp lại trong những ngày chuyển tiếp tại Trung Quốc. Chúng tôi rất hạnh phúc với các điều tốt lành mà cá nhân chúng tôi nói riêng và toàn đoàn nói chung đã thực hiên;  đồng thời chúng tôi không quên việc hồi hướng các công đức về cha mẹ cùng các con được an vui và có được nhân duyên phát sinh phước báu trí tuệ trong cuộc đời, ngoài ra chúng tôi cũng thường bảo nhau sẽ tu sữa nếu có những thiếu sót suốt tiến trình hành hương.

 Trong khi đặt bút ghi lại tâm tư mình, bắt đầu về “Một Chữ Duyên” với ni sư Giới Hương, một niềm hỷ lạc nhẹ nhàng đã khởi lên và thấm nhuần trong thân tâm. Ký ức về các buổi vấn đáp Pháp học và Pháp hành đã được ni sư chỉ dạy thông suốt qua kiến thức uyên bác cả hai truyền thống Nguyên Thuỷ (Theravada) và Phát triển (Mahayana) của Ni sư. Nhờ đó, chúng tôi có sự hiếu biết nhiều hơn về tư tưởng, nhận ra mẫu số chung và điểm dị biệt đặc biệt trong khía cạnh thực hành giữa hai truyền thống một cách tổng quát. Chúng tôi thầm nguyện cố gắng tinh cần tu học theo gương ni sư và theo khả năng khiêm tốn góp phần trợ duyên ni sư trong đại nguyện xây dựng viện Phật Học tại Perris, nam California.

 

Connecticut, ngày 30 tháng 11 năm 2019

Phật tử Quảng Trí và Tịnh Bình

[email protected]

 

ns-gioi huong (1)

Tại Chùa Indo-Srilanka, Varanasi

 

ns-gioi huong (2) 

Chánh Hảo, Ns Giới Hương, Sc Diệu Nga, Sc Diệu Hoa,

Quảng Trí và Tịnh Bình cùng hai Sư cô Tây Tạng

Tại trường đại học Tây Tạng, Lộc Uyển

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/11/2010(Xem: 10384)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11127)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 10504)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 15144)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 46501)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 9873)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).
23/10/2010(Xem: 8314)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 8493)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
23/10/2010(Xem: 8350)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 8290)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự