Hành Trình Của Ý

21/12/201908:41(Xem: 7164)
Hành Trình Của Ý

HÀNH TRÌNH CỦA Ý

                                                              

 

Bất cứ ai sinh ra và lớn lên cũng phải cất bước chân đi trong cuộc hành trình miên viễn của dòng đời tương tục. Thế nên, giới thi nhân tự xem mình là những lữ khách dạo chơi trên mọi nẻo đường để rồi tương phùng trong cái thế giới mộng ảo trần ai: “Lang thang từ muôn kiếp, gặp nhau từ thuở luân hồi.”

Huynh đệ tỷ muội chúng tôi ở ba miền (nam, trung và bắc) từ lâu đã: “Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách, Nhật viễn gia hương vạn lí trình” trên dãi đất chữ S nước Việt, duyên đến cũng cùng nhau hội ngộ dưới mái trường Cao cấp Phật học Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh – Khóa II (1988 – 1992) thật là vui mừng biết bao!

Trải qua một chặng đường dài gần 5 năm tu học để “yêu thương và hiểu biết”, ngày mãn trường lại đến. Ai cũng tự nhận biết đây chỉ là một chặng đường kết thúc của một hành trình chưa có điểm kết. Học xong chương trình cử nhân dưới mái trường Vạn Hạnh này, anh em tự nhủ, tùy theo thiện duyên mà mỗi người tiếp tục cuộc hành đi về nẻo ý riêng biệt của mình.

Thế nhưng cuộc đời bao giờ cũng có những giá trị được xuất hiện từ trong sự vận động diệu kỳ vốn có của cuộc sống. Khi cánh cửa này khép lại thì cánh cửa kia mở ra. Trước mắt là một viễn cảnh mới đón chào, trên đầu là bầu trời mênh mông bát ngát, dưới đất là muôn vạn đường lối rẽ cho những bước chân vững chãi của mỗi người.

Thời ấy thông qua mối giao hữu hợp tác giữa Việt Nam và Ấn Độ, cùng với uy tín của cố Hòa thượng Viện trưởng Thích Minh Châu và Hòa thượng Viện phó Thường trực Thích Chơn Thiện Trường Cao cấp Phật học Việt Nam, các Tăng Ni sinh Khóa II, III, lần lượt được phép xuất ngoại đi về xứ Phật - Ấn Độ du học ở cấp cao hơn như là thạc sĩ, tiến sĩ và hậu tiến sĩ Phật học.

Có lẽ vậy, trong số huynh đệ tỷ muội hồi ấy, có sư Thích nữ Giới Hương Khóa II lên đường du học sang Ấn Độ tu học như bao người khác. Trước đó, Sư cô là người trong lớp ai cũng biết. Đó là mẫu người cần mẫn siêng năng học mọi lúc mọi nơi, tranh thủ cả giờ ra nghỉ để tìm kiếm từng con chữ (sư cô không tham dự các tour di Đạt Lạt hay tour nghỉ do trường tổ chức để có thời gian học 1 lúc hai đại học văn khoa và Phật học).

Như con ong chăm chỉ miệt mài tìm hoa - hút mật – rồi tỏa hương cho đời sau này, sư cô nhiệt tâm tinh cần hoàn thành cử nhân Phật học vào năm 1992, rồi đến cử nhân Văn chương Việt Nam vào 1994. Có một nền tảng khá vững chắc, sư cô tự tin lên đường du học ở xứ Ấn với khát khao mong cầu được tiếp thu tri thức Phật học, thực hành giáo điển của Phật. Đó là sự khởi đầu mới, cho một lộ trình mới trong cuộc hành trình bất tận đến một thế giới tự do – an lạc – giải thoát mà bất cứ ai là đệ tử của Phật cũng phải hy vọng và đợi chờ.

Mười năm sống và trải nghiệm trên đất nước Ấn Độ, xứ sở cội rễ - mạch nguồn Phật giáo, là thời gian không phải dài, cũng không phải ngắn, nhưng thiết nghĩ, có khi nó cực kỳ quan trọng cho một đời người. Chính thời gian này làm cho sư cô “lớn lên và trưởng thành” hơn, để rồi vào năm 2003, sư cô tốt nghiệp Tiến sĩ Phật học tại Đại học Delhi. Có lẽ đây cũng là thời gian, sư cô hạnh phúc nhất, chỉ chuyên tâm học Phật, tu theo Phật như sở nguyện của mình.

Chưa dừng lại đó, cuộc đời còn có nhiều lối đi và cũng khó biết trước được. Cái duyên đến vùng đất mới để hành đạo sau khi tốt nghiệp Tiến sĩ Phật học. Sư cô định cư tại Hoa Kỳ vào năm 2005. Ở đất khách quê người, từ những ngày đầu tiên, sư cô cũng  tinh cần vượt khó vừa học, vừa thuyết giảng, vừa tu tập để rồi hương hoa quả ngọt cũng trổ đầy. Vào năm 2015, sư cô tốt nghiệp Cử nhân Văn tại Đại học Riverside, California và đang theo học chương trình Cao học Văn tại trường. Xem ra, dù ở phương trời nào, chí nguyện sở cầu của sư cô cứ mãi thắp lên soi sáng con đường Duy tuệ thị nghiệp như là hành trang để cất bước chân vững chãi vào đời.

Có lẽ đây là hạnh nguyện, là đặc trưng con người của sư cô trong hành trình miên viễn hướng tâm về miền đất an lạc đầy hương thơm của Giới bay tỏa, qủa ngọt của Định từ bi và ánh nắng mặt trời Tuệ giác rọi chiếu. Chính vì vậy, nhiều khi ngẫm lại, cuộc hành trình này, đối với sư cô là không có điểm khởi đầu và cũng không có điểm kết thúc.

Mà kết thúc sao được, trong 40 năm xuất gia học đạo cũng là 40 năm nghiên tầm kinh điển, tùy duyên hóa đạo. Năm 2000, sư đã thành lập chùa Hương Sen, Bình Chánh, Sài Gòn (Việt Nam) và năm 2010 - đến nay, sư đã khai sơn thành lập và là trụ trì chùa Hương Sen, thành phố Perris, tiểu bang Cali, Hoa Kỳ. Cho đến giờ này một mình qua lại 2 ngôi chùa, cách nhau nửa vòng trái đất, ấy vậy pháp âm vẫn vang mãi 2 đạo tràng ở 2 hai chùa xa cách nhau. Lý thú hơn nữa, sư cô còn tích cực tham gia giảng dạy tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh nữa. Có lẽ, nhiều khi Phật cũng mỉm cười, Bồ tát thì hoan hỷ, Hộ pháp thường ủng hộ, nên sư cô “tùy duyên vui với đạo” mà làm Phật sự không dừng nghỉ.

Bao nhiêu công đức, bấy nhiêu thành quả của sư cô đều được hóa hiện trong tủ sách Bảo Anh Lạc, trong đó có 40 công trình nghiên cứu về văn hóa, văn học, Phật học, âm nhạc Phật giáo đã được xuất bản và tái bản nhiều lần bằng Anh ngữ và Việt ngữ đến tay bạn đọc. Thời gian 40 năm trong dòng sống sinh tử này quả là quý báu, quý báu hơn lại có 40 tác phẩm chào đời, thật ấn tượng biết bao.

Có lẽ đây là lý do vì sao mọi người sống trong đạo, yêu mến đạo, trên hết là những đệ tử, học trò của sư cô, quý mến sư cô muốn thỉnh cầu sư cô thực thi ấn phẩm thứ 41 ra mắt độc giả gần xa với nhan đề: Tuyển tập 40 Năm tu học và Hoằng pháp của Ni sư Giới Hương, như kết thúc một chặn đường trong cuộc hành trình bất tận của người học Phật và tu theo Phật.

Bất chợt tôi nhớ như in lời dạy của thiền sư Nhất Hạnh:

“Chẳng biết rong chơi miền Tịnh độ,

Làm người một kiếp cũng không xong”

 

 

 

 

                                                      Học Viện Phật Giáo Việt Nam, ngày 18/11/2019

                                                                                                                                                                                                            TK. Thích Phước Đạt

      ([email protected])

-Phó Viện Trưởng VNCPHVN, TPHCM kiêm

Giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Học PGVN

-Phó Viện Trưởng HVPGVN, TPHCM

                                                             Kiêm Trưởng Khoa Phật Giáo Việt Nam

                       -Ủy Viên Ban Chấp Hành Hội Nghiên Cứu Văn Học VN tại TpHCM

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/11/2010(Xem: 10623)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11343)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 10727)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 16486)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 48337)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 10097)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).
23/10/2010(Xem: 8624)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 8730)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
23/10/2010(Xem: 8526)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.