Chí Cầu Niệm Phật

21/12/201910:06(Xem: 6942)
Chí Cầu Niệm Phật

phatdida

CHÍ CẦU NIỆM PHẬT

Nam Mô A Di Đà Phật

Kính bạch Ni Sư Giới Hương,

Con là Sadini Diệu Hải, sư đệ cùng thầy Hải Triều Âm với Ni sư Giới Hương. Con là đứa em hậu học, lớn tuổi, lại suốt ngày ở trong tịnh thất, quê mùa, ít tiết xúc với thế giới bên ngoài. Theo cảm nghĩ của con, Ni Sư là một người đàn chị, sư tỷ, rất thương các đàn em nhỏ, đệ tử, phật tử; Ni sư luôn luôn làm thỏa mãn mọi mong cầu tâm linh, mỗi khi ai cần nhờ đến Ni Sư, cũng không bao giờ từ chối và cũng không nề mệt mỏi. Ni Sư lại là người tu hành rất cương quyết dứt khoát, nhẫn lại, quyết trí thực hiện để đạt được ý nguyện của mình vượt qua mọi khó khăn.

Kính bạch Ni Sư: nay vâng lời Ni Sư, con xin chép lại một đoạn Kinh dạy Niệm Phật của Đại Sư Hán Sơn (Trích trong quyển "Quê Hương Cực Lạc" của Hòa Thượng Thích Thiện Tâm) mà thầy Hải Triều Âm hay đọc để kính tặng Ni sư:

HÁN SƠN ĐẠI SƯ KHAI THỊ

“Mỗi ngày trừ hai thời công phu chỉ đem câu A Di Đà Phật đặt ngay ngực, niệm niệm chẳng quên, tâm tâm chẳng mê, hết thảy sự đời chẳng nghĩ ngợi đến. Chỉ lấy câu Phật làm mạng sống của mình, cắn chặt hàm răng quyết chẳng buông bỏ, thậm trí ăn uống, cử động, đi đứng, nằm ngồi một tiếng niệm Phật này thời thời hiện tiền.

Nếu gặp cảnh thuận nghịch, vui giận, phiền não, lúc tâm chẳng yên, bèn đem tiếng niệm Phật nhiều lên, liền thấy phiền não khi ấy tiêu diệt. Bởi niệm Phật phiền não là gốc sanh tử, nay dùng niệm Phật tiêu diệt phiền não chính là Phật độ nỗi khổ sanh tử. Nếu niệm Phật tiêu trừ phiền não, liền có thì khỏi sanh tử, không có pháp gì khác.

Nếu niệm Phật đến khi làm chủ được phiền não, thì làm chủ được mộng du, nếu trong mộng đã kiểm soát được thì khi bệnh khổ cũng làm chủ được. Nếu đã làm chủ được "bản thân" trong khi bệnh tật, trừ khi mạng chung liền biết chỗ sanh về.

Sự này chẳng khi cần, chỉ cần làm với một niệm sanh tử, tâm khẩn thiết chỉ cần dựa vào một mình tiếng niện Phật, không có suy nghĩ gì khác. Lâu ngày thuần thục, tự nhiên được đạo an lạc, được đại thọ dụng.”

Nhân dịp Kỷ niệm 40 năm Tu Học và Hoằng Pháp của Ni sư, chúng con kính chúc Ni sư và chư Ni chúng chùa Hương Sen thân thương sức khỏe dồi dào, luôn niệm Phật và chia sẻ pháp môn tịnh độ này đến với mọi chúng sanh như công hạnh của Tổ Hám Sơn và Thầy Hải Triều Âm.

 

Con thành tâm kính lễ,

Tịnh Thất Giác Huệ, TX, ngày 18/11/2019

Sadini Diệu Hải
([email protected])





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 12427)
Một sinh thể đã xuất hiện trong cuộc đời như chưa từng có, đến lúc từ giã ra đi cũng thật nhẹ nhàng như cánh nhạn lưng trời. Vốn xuất thân từ dòng dõi trâm anh thế phiệt, được bẩm thụ cái gen của tổ phụ từng nổi tiếng văn chương, lại hấp thụ tinh hoa của địa linh sông Hương, núi Ngự - một vùng đất được xem là cái nôi của văn hóa Phật giáo miền Trung. Khi trưởng thành, thể hiện phong thái của một bậc nữ lưu tài sắc vẹn toàn, nhưng túc duyên thôi thúc, sớm rõ lẽ vô thường, dễ dàng từ bỏ cảnh phú quí vinh hoa, hâm mộ nếp sống Thiền môn thanh đạm.
10/04/2013(Xem: 8779)
Cư sĩ Tâm Minh- Lê Đình Thám sanh năm Đinh Dậu (1897) tại làng Đồng Mỹ (Phú mỹ), tổng Phú Khương, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam-nay là tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng. Ông xuất thân trong một gia đình quyền quí nhiều đời làm quan.Thân sinh là Binh Bộ Thượng Thư Lê Đỉnh ở triều Tự đức.
10/04/2013(Xem: 9275)
Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, thế danh là Nguyễn Văn Kỉnh, sinh ngày 17 tháng 11 năm Tân Mão (1890), tại làng Dưỡng Mông Thượng, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Thân sinh là cụ ông Nguyễn Văn Toán và cụ bà Tôn Nữ Thị Lý. Ngài là con trai thứ ba trong gia đình, bẩm tính thông minh, năm 15 tuổi Ngài đã tinh thông Nho học rõ lẽ xuất xứ ở đời, nhưng với chí khí xuất trần, muốn vươn tới một phương trời cao rộng Ngài đã xin phép song thân được xuất gia tầm sư học đạo.
10/04/2013(Xem: 14277)
Đại Lão Hoà Thượng Pháp danh Thượng Quảng Hạ Liên, Tự Bi Hoa, Hiệu Trí Hải thế danh Nguyễn Văn Chính, sinh năm 1926 – Bính Dần tại Sông Cầu – Tỉnh Phú Yên, trong một gia đình túc nho, tiểu thương, giàu lòng kính tin tam bảo, Hoà thượng là con thứ 8 trong gia đình với 09 Anh Chị Em được thân phụ là Cụ Ông Nguyễn Văn Phân – PD. Nhựt Minh và thân mẫu là cụ bà Võ Thị Dưỡng – PD.
10/04/2013(Xem: 9201)
Ngài thế danh là Nguyễn Xuân pháp danh Thanh Phong pháp tự Hoàng Thu hiệu Như Nguyện. Sinh ngày 01/06/1937 tai thôn Phú Cấp xã Diên Phú huyện Diên Khánh tinh Khánh Hoà. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Ðối thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Lẻo pháp danh Trừng Lan. Ngài là anh cả trong 4 anh em.
10/04/2013(Xem: 14471)
Viết thêm một bài về Ngài Thiện Minh, dù nhiều vị đã viết - Viết, vì thấy thêm một bài của Tâm Nguyên trên diễn đàn baovechanhphap - Viết, vì Mùa Hạ 2009, tịnh niệm An Cư, tưởng nhớ tiền nhân, làm gì cho hôm nay, và nhắc nhở hậu bối mai sau Tương chao nhà quê Tăng Lữ
10/04/2013(Xem: 12290)
Hòa Thượng Thích Tắc Thành - Trình bày: Chiếu Quang và Hoàng Lan
10/04/2013(Xem: 9001)
Hòa thượng thế danh Võ Văn Nghiêm, pháp danh Giác Trang, hiệu Hải Tràng thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông, đời thứ 41, sinh năm Giáp Thân (1884) tại làng Tân Quí, tổng Phước Điền Thượng, tỉnh Chợ Lớn. Thân phụ là cụ ông Võ Văn Nghĩa, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Tín. Ngài sinh trưởng trong một gia đình tín ngưỡng Tam Bảo thuần thành. Thân phụ Ngài là một vị hương chức trong làng, lúc tuổi ngũ tuần xin từ chức để xuất gia hiệu là Thanh Châu, đến 75 tuổi được phong Giáo thọ, sáng lập chùa Vạn Phước tại làng Tân Chánh, huyện Hốc Môn, Sài gòn. Ngài có hai anh em trai, người anh cả xuất gia được tấn phong Hòa thượng, hiệu Chơn Không.
10/04/2013(Xem: 8139)
Hòa Thượng THÍCH BẢO AN, húy thượng THỊ hạ HUỆ tự HẠNH GIẢI, thế danh LÊ BẢO AN, thuộc đời Lâm Tế Chánh Tông thứ Bốn mươi hai. Nguyên Hòa Thượng sanh năm 1914 (Giáp dần), tại thôn Tịnh Bình, xã Nhơn Hạnh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh, trong gia đình Lê gia thế phiệt, vốn dòng môn phong Nho giáo, đời đời thâm tín Tam Bảo, tôn sùng Ðạo Phật. Thân phụ là cụ ông LÊ PHÚNG, pháp danh NHƯ KINH, thân mẫu cụ bà TỪ THỊ HỮU, pháp danh NHƯ BẰNG, đức mẫu là cụ bà NGUYỄN THỊ CƠ, pháp danh NHƯ DUYÊN.
10/04/2013(Xem: 9143)
Hòa Thượng Thích Thiện Thanh thuộc dòng thiền Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 41, thế danh Nguyễn Văn Sắc, nguyên quán làng Phú-Nhuận, Nha-Mân, tỉnh Sa-Ðéc miền Nam nước Việt (nay thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp), sinh Năm Ất Hợi (1935) Niên hiệu Bảo Đại năm thứ 20. Song thân Ngài là Cụ Nguyễn Văn Xướng và Cụ Bà Huỳnh Thị Thâu đều kính tin Tam Bảo.