Ký Ức Tuổi Thơ của con về Chùa Ấn Quang và Ôn Trí Quang

18/11/201921:38(Xem: 11829)
Ký Ức Tuổi Thơ của con về Chùa Ấn Quang và Ôn Trí Quang

     Chan dung HT Thich Tri Quang 2



KÝ ỨC TUỔI THƠ CỦA CON
VỀ CHÙA ẤN QUANG VÀ ÔN TRÍ QUANG

 

Ký ức tuổi thơ theo mẹ đi chùa .Khoảng những năm 1977, 1978, lúc đó con 10, 11 tuổi. Mỗi cuối tuần con theo mẹ đi chùa Ấn Quang thọ Bát Quan Trai, ở lại chùa 1 ngày 1 đêm. Buổi khuya, giờ đi công phu, con thường quan sát 2 phòng cuối của dãy nhà Tăng. Phòng ở bên trái (từ trong chánh điện nhìn ra) là phòng Hòa thượng Trí Quảng, Ngài ngồi trên ghế tụng Kinh Pháp Hoa; phòng bên phải (từ trong chánh điện nhìn ra) là phòng Hòa thượng Trí Quang, Ngài lạy sám hối, sau tấm bình phong, cửa mở toang có lẽ trời nóng. Cứ vậy mỗi tuần dự BQT con đều quan sát. Lúc đó con chỉ thắc mắc sao thầy Trí Quang không đi công phu với đại chúng mà lạy sám hối trong phòng? Rồi có một hôm con theo mẹ vào phòng HT Trí Quang để chào Ngài đi về. Ngài hỏi: “Giờ mấy mẹ con đi đâu đó?” mẹ con trả lời: “Dạ chúng con đi Sài gòn.” Hòa Thượng nói tiếp: “Sài gòn mất rồi, còn đâu để đi.” mẹ con im lặng, mĩm cười.  Con chỉ có chừng đó kỷ niệm về Người thời theo mẹ đi chùa Ấn Quang.

 

Đến mùa hè năm 1979 con vào chùa Huê Lâm tập sự xuất gia, rồi 1981 thọ Sa-di-ni, con thỉnh bộ Sa-di-ni của Hòa Thượng dịch, con thích lắm và đã tự học nằm lòng. Lớn thêm chút, con đi ra tiệm cơm chay của chùa công quả, mỗi sáng dậy quý Sư thường mở cho nghe Thủy sám, do Hòa Thượng dịch. thầy Chơn Thức tụng. Đến khi ra nước ngoài, mỗi tối thứ năm trong tuần huynh đệ chúng con thường tụng Kinh Di Giáo, bản dịch của Hòa Thượng. Khóa kiết Thu hằng năm cho chư Ni tại Hoa Kỳ, trong ngày mãn khóa, chúng con cũng tụng Kinh Di Giáo. Con rất thích văn phong của Hòa thượng, ngắn gọn súc tích, thường là bốn chữ.

 

Kính bạch Hòa thượng, hình ảnh Người lạy sám hối mỗi khuya năm xưa, đã theo con đi vào chùa từ thuở ấu thơ. Nhờ đó, con tinh tấn lạy sám hối khi còn là cô điệu. Con luôn nghĩ rằng Hòa Thượng là bậc tôn đức mà còn tinh tấn lễ Phật sám hối, còn mình không siêng năng thì không thể. Chỉ nghĩ đơn giản vậy mà con lạy hết bộ Vạn Phật, Lương Hoàng sám, Thủy Sám.

Con có đọc được câu Hòa thượng viết (con quên là trong sách nào rồi): “ Khi đứng trước Phật thì mình phải hứa là mình xứng đáng là con của Phật.” nhờ vậy mỗi khi đắp y, đứng trước Phật con luôn giữ mình nghiêm trang và thường tự nhắc: “ Mình phải tu tập đàng hoàng để xứng đáng là con gái của Đức Thế Tôn.”

 

Kính bạch Hòa thượng, con chưa từng được nghe Hòa thượng giảng dạy trực tiếp, nhưng thân giáo và kinh văn của Hòa thượng dịch đã nuôi dưỡng Bồ đề tâm con từ hồi mới vào chùa cho đến bây giờ.

 

Hôm nay, nơi Mỹ quốc hay tin Hòa thượng viên tịch, con bùi ngùi kính tiếc…

Con viết lại ký ức tuổi thơ để bày tỏ lòng biết ơn Người!

 

Đọc di chúc của Hòa thượng con cảm phục và ngưỡng mộ! Ngưỡng mộ vì lời sau cùng của Người vẫn là bài học lớn cho con: “Đơn giản và tiếc kiệm” Có thể có người nghĩ rằng chỉ có vậy thôi có gì là bài học lớn. Nhưng chỉ vậy thôi không có nghiã là ai cũng có thể làm được!!! và vì ít người làm nên nó là bài học lớn.

Vậy thôi, như Người đã nói trong quyển tự truyện: “…cuộc đời tôi ‘không vẫn hoàn không’, không có gì đáng nhớ, đáng nói. Ngay như sự tự truyện này, vì không thể không có, nên phải viết và phải in, mà thôi. ‘Không vẫn hoàn không’ là Phật cho, tôi mới được như vậy.”

Nhờ Phật cho, nên hàng hậu học chúng con có được bậc Thầy như Hòa thượng!

Nhất tâm đảnh lễ Từ Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Nhất Thế, Nguyên Thiều Pháp Phái, Phổ Minh Môn Hạ, Huý Thượng NHẬT Hạ QUANG, Tự TRÍ HẢI – TRÍ QUANG, Hiệu THIỀN MINH, đích thị Phạm Công Trưởng Lão Hoà Thượng Giác Linh Tân Viên Tịch.

 

Chùa Huê Lâm Buston  Ngày 10- 11- 2019

Thích Nữ Như Bảo

 

 

 

 

Ý kiến bạn đọc
20/11/201919:26
Khách
Dựa theo cách sắp chử trong Lòng Linh của Long Vị HT theo như chùa TĐ Giác Lâm;Giác Viên hay Tây An.Bắt buộc để Pháp DANH trên Pháp HUÝ.Tóm lại Lòng Linh Đức TLHT như sau : Tân viên tịchTỪ LÂM TẾ Gia Phổ;Nguyên Thiều Pháp Phái ;Thập Tháp-Quốc Ân- Sùng Tu Phổ Minh Đường Thượng;Tứ thập Nhứt Thế thượng TRÍ hạ QUANG huý NHỰT QUANG tự TRÍ HẢI hiệu THIỀN MINH TLHT Tỳ Kheo GL Nghê Toạ
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 15333)
Thuở nhỏ lòng ưa cửa Ðạo, mến chuộng nếp áo phước điền, ngưỡng trông tịnh xá Kỳ Viên, tha thiết lòng cầu xuất tục. 16 tuổi, xuất gia học đạo chùa Tây An, Châu Ðốc trước tiên, gần quý Thầy hiền, trau dồi Phật tuệ, bang sài vận thủy, tu sửa đạo tràng; 27 tuổi, cầu thọ tam đàn. Kể từ đó tinh chuyên tu niệm.
09/04/2013(Xem: 9787)
Đại lão hòa thượng Thích Trí Nhãn thế danh là Đoàn Thảo, pháp danh Như Truyện, tự Giải Lệ, hiệu Thích Trí Nhãn. Ngài sinh ngày 10 tháng giêng năm Kỷ Dậu tức vào năm 1909 dương lịch, tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, Xã Thanh Hà, nay thuộc thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, Thị Xã Hội An.
09/04/2013(Xem: 17797)
Xuất thân trong một gia đình gia giáo có thân phụ là Chánh Tổng nên Hòa Thượng đã sớm hấp thụ Nho học và Tây học từ thuở ấu niên. Vì thế, Hòa Thượng đã thông thạo cả Hán văn lẫn Pháp văn, kết hợp và dung hòa được cả hai truyền thống văn hóa Đông – Tây.
09/04/2013(Xem: 15547)
Hòa Thượng thượng Tâm hạ Thành. Thế danh là Nguyễn Ðức Huân sinh năm 1930 tại làng Trà Bắc, Phủ Xuân Trường, Tỉnh Nam Ðịnh, Miền Bắc Việt Nam. Năm 1942 khi vừa tròn 12 tuổi, Ngài ngộ lý vô thường và xuất gia học đạo với Sư Tổ Thượng Chính Hạ Ðĩnh tại chùa Yên Cư, Phủ Xuân Trường, Thuc Sơn Môn Trà Bắc. (Sơn môn Trà Bắc, Trà Trung và Trà Ðông thuc Tổng Trà Lũ, là hậu thân của Sơn môn Yên Tử). Ngài được Bổn Sư ban Pháp danh là Ngọc Tiểu Pháp hiệu Tâm Thành.
09/04/2013(Xem: 13149)
Mỗi lần đi Huế lòng tôi lại nao nao khôn tả. Huế là đạo, là thơ, là nghĩa tình ý vị, là tinh hoa văn hóa của ba miền đất Việt, nhưng cũng là mảnh đất khô cằn của đói nghèo khốn khổ “mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu cơm” đã hứng chịu nhiều thiên tai nhân họa. Huế được phong phú về mặt văn hóa, tâm linh là nhờ hình ảnh những vị đại lão hòa thượng nơi đây đã sống, hành đạo và xả báo thân. Dù đã viên tịch, dư hương các ngài vẫn như còn phảng phất nơi các ngôi tổ đình tĩnh lặng và những rừng thông bạt ngàn.
09/04/2013(Xem: 8533)
Giờ phút Thầy an nhiên xả báo thân, thì bên này hơn nữa đêm. Một Phật tử của Thầy ở miền Đông nước Mỹ, giọng đầm đìa nước mắt, khấp báo cho tôi tin Thầy đã từ biệt, lệ tiếc thương như tràn ngập, khắp đó khấp đây. Rồi Tuệ Sỹ, một hậu tấn, kẻ đồng tâm dễ thương của Thầy, mà tôi thường ví như một hạt kim cương hiếm hoi lẫn trong đá sỏi của Phật Giáo Việt Nam ngày nay, trong nổi cô quạnh bao la vừa sau một mất mát lớn lao đã ai tín cho tôi bằng lá thư không niêm mà tôi biết mỗi chữ cũng trĩu nặng nổi lòng.
09/04/2013(Xem: 5678)
Cho phép con thành tâm kính cẩn chia buồn với quí ngài về nỗi mất mát lớn lao không sao tìm lại được. Ðối với kẻ hậu học, làm sao con không khỏi bồi hồi, luyến tiếc khi hay tin sự ra đi của cố Hoà thượng Thích Ðức Nhuận, người đã hiến trọn đời mình cho đạo pháp và dân tộc. Trong giờ phút này, nơi phương xa, một người đệ tử đã có nhân duyên muộn hầu cận, học hỏi nơi cố Hoà thượng khi còn ở Việt Nam, xin đảnh lễ chư tôn đức trong Tổ đình và xin quí ngài cho con có đôi lời bộc bạch với giác linh của cố Hoà thượng. Ngưỡng bạch giác linh Hoà thượng chứng giám.
09/04/2013(Xem: 9344)
Hòa Thượng Thích Thiện Trì thế danh Nguyễn Văn Hiến, Pháp danh Như Phụng, Pháp tự Thiện Trì, Pháp hiệu Ấn Ðạo thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ bốn mươi hai, Ngài sanh ngày 19 tháng 02 năm 1934 tại xã Nhơn Khánh, quận An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh. Ngài xuất thân từ một gia đình thuần túy Phật Giáo, thân phụ của Ngài là cụ ông Nguyễn Hàn, Pháp danh Như Ðà. Thân mẫu của Ngài là cụ bà Bùi Thị Thiệp, Pháp danh Như Cảnh. Ngài có tất cả 10 anh em, 5 trai và năm gái.
09/04/2013(Xem: 27299)
Để ghi lại những công –tác Hoằng-pháp và Giáo-dục trong niên-khóa vừa qua, chúng tôi đã thuyết-pháp và giảng-giải các lớp ở Ấn-Quang cho hàng Phật-Tử tại gia, cũng như tại Viện Đại Học Vạn-Hạnh cho sinh-viên Phật-khoa năm thứ IV (73-74) về môn các tác phẩm Trung-Hoa. Và cũng thể theo lời yêu cầu của đa-số Phật-tử muốn có tài-liệu để học-tập và nghiên-cứu, nên chúng tôi gom góp các bài đã biên-soạn, đúc kết thành một tập sách với nhan đề: “GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA”.
09/04/2013(Xem: 13376)
hế danh của Sư Bà cũng chính là Ðạo Hiệu hiện tại. Song Thân khó nuôi con, nên lúc 2 tuổi hai Cụ đã đem vào chùa cúng cho Sư Bà Ðàm Soạn, Trú trì chùa Cự Ðà và được Sư Cụ đặt tên là Ðàm Lựu. Phụ thân của Sư Bà là Cụ Ông Ðặng Văn Cán và Mẫu thân là Cụ Bà Nguyễn Thị Cả. Sư Bà sanh vào ngày 13 tháng 6 năm Quý Dậu, 4.811 Quốc Lịch; nhằm ngày 04 tháng 08 năm 1933 Tây lịch; tại làng Tam Xá, xã Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Ðông, Bắc Việt Nam.