Hạt tâm kết tụ

14/11/201907:30(Xem: 10993)
Hạt tâm kết tụ

On Tri Quang 2

Hạt tâm kết tụ


Nơi vườn đời dị thảo
Sen nở ngát tình thương 
Nhuỵ đài gieo ngũ sắc 
Tỏa vị hương chân thường

Giữa thế gian phiền trược
Tâm các bậc chân tu
Chuyển núi cao ngã chấp
Hoá tư tưởng hận thù

Thành đống lương thạc đức
Lên tươi mát thế gian
Một Trái Tim Quảng Đức
Chiếu diệu khắp phương ngàn


Đi giữa dòng tục đế
Một tâm gương Trí Quang
Lưu bộ Răng, Xương Xọ
Toả sáng Ánh Đạo Vàng

Soi thế gian u tối
Xoa dịu nỗi lầm than
Hướng tư duy mục nát
Thành vườn tâm địa đàng


NGƯỜI về nơi vô ngã
NGƯỜI về nơi vô sanh
Nơi tâm hương nguyện lực
Sống động Bát Nhã Hành

Trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam rất nhiều các bậc cao Tăng thạc đức tuy sống giữa vô thường vẫn để lại một tín hiệu gì đó cho thế gian, cho hàng hậu học nhìn vào mà tăng trưởng niềm tin, khi con mắt bình thường của thế gian khó nhận ra những điều vi diệu. Trong vô số đó đã có một số ít trường hợp vẫn chỉ rõ cho chúng ta thấy, các Ngài đã vượt cả không gian và thời gian để lưu lại một phần nào từ Báo Thân, như trường hợp Lục Tổ Huệ Năng (Ngài là người Việt, vì thời đó vùng đất Lưỡng Quãng chưa bị mất vào tay Trung Quốc) đã lưu lại Nhục Thân hiện vẫn còn chưng thờ tại Chùa Hoa Nam. Chùa Đậu ở Hà Tây miền bắc nay vẫn còn lưu lại Nhục Thân của hai vị thiền sư là Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường từ cách nay khoảng 300 năm. Thời hiện đại đã có các bậc Tùng Lâm Thạch trụ và cũng là chứng nhân của thời cuộc, đó là Bồ Tát Thích Quảng Đức, hơn nửa thế kỷ trước đã đốt thân cúng Phật và kêu gọi bình đẳng tôn giáo từ một thể chế độc tài toàn trị, đã lưu lại một Quả Tim Bất Diệt. Cũng đồng thời, đồng chứng nhân và đồng thuyền cùng Bồ Tát Quảng Đức đó thì, hơn nửa thế kỷ sau lại có một bộ Xương Xọ, nguyên Bộ Răng của Thượng Nhân trưởng lão Trí Quang như một tấm gương Ánh Đạo Vàng, không chỉ cho khối Phật Tử mà có thể cho cả khối dân tộc đồng soi chung vậy.

Vẫn biết là thực tế đã thế, nhưng để được khách quan, chúng ta có thể trừu tượng một chút, bằng cách ví Trái Tim của Bồ Tát Thích Quảng Đức là biểu hiện của Từ Bi vô lượng và bộ Xương Xọ của Thượng Nhân Thích Trí Quang là Tuệ Giác vô biên.

Bởi bằng chứng rất hùng hồn và rõ ràng rằng quả tim thiêu cả từ 3-4 ngàn độ C mà vẫn không cháy. Và về tuệ giác thì cả một pho kinh luật luận, vừa trước tác, dịch thuật rất chuẩn mực suốt quãng đời của Người. Thế nên, với kẻ hậu học như con, con chỉ biết phủ phục kính lễ các bậc Đống Lương thay vầng trăng sáng soi bước đường hướng Phật.


Tuệ Minh-Thích Phước Toàn
November 11, 2019
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 8734)
Hòa thượng họ Võ, húy Trọng Tường, Pháp danh Tâm Phật, tư Tri Đức, hiệu Thiện Siêu, Hòa thượng sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Dậu (1921) trong môt gia đình thâm Nho tín Phật ở làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, thành phố Huế. Thân Phụ là C ông Võ Trọng Giáng, thân mẫu là Cụ bà Dương Thị Viết. Hòa thượng là con trưởng trong một gia đình có 6 anh em: 3 trai, 3 gái. Người em kế cũng xuất gia, đó là cố Thượng tọa Thích Thiện Giải, nguyên là Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Lâm Đồng; Trú trì chùa Phước Huệ - Bảo Lộc.
09/04/2013(Xem: 10704)
Thầy xuất thân trong một gia đình kính tín Tam bảo. Thầy là con út trong gia đình gồm 6 anh chị em. Cha là cụ Ông Lâm Sanh Thảo, một nhà trí thức yêu nước; Mẹ là cụ Bà Trần Thị Năm, một phật tử thuần túy và cũng là một người Mẹ mẫu mực đảm đang.
09/04/2013(Xem: 14206)
Thượng tọa Thích Chơn Thanh, thế danh Phan Văn Bé, sinh ngày 13 tháng 3 năm 1949 tại xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Kiến Phong, nay là tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ là Cụ ông Phan Văn Vinh, thân mẫu là Bà Nguyễn Thị Mến. Thượng tọa có 06 anh em, 2 trai 4 gái, Ngài là anh cả trong gia đình.
09/04/2013(Xem: 25909)
Cuộc đời tu tập và hành đạo của Thầy Minh Phát là bức tranh minh họa hiện thực sinh động lời dạy của Ðức Phật: “Này chư Tỳ kheo! Hãy du hành vì an lạc, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư Thiên và loài người”.
09/04/2013(Xem: 15529)
Thuở nhỏ lòng ưa cửa Ðạo, mến chuộng nếp áo phước điền, ngưỡng trông tịnh xá Kỳ Viên, tha thiết lòng cầu xuất tục. 16 tuổi, xuất gia học đạo chùa Tây An, Châu Ðốc trước tiên, gần quý Thầy hiền, trau dồi Phật tuệ, bang sài vận thủy, tu sửa đạo tràng; 27 tuổi, cầu thọ tam đàn. Kể từ đó tinh chuyên tu niệm.
09/04/2013(Xem: 9908)
Đại lão hòa thượng Thích Trí Nhãn thế danh là Đoàn Thảo, pháp danh Như Truyện, tự Giải Lệ, hiệu Thích Trí Nhãn. Ngài sinh ngày 10 tháng giêng năm Kỷ Dậu tức vào năm 1909 dương lịch, tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, Xã Thanh Hà, nay thuộc thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, Thị Xã Hội An.
09/04/2013(Xem: 17917)
Xuất thân trong một gia đình gia giáo có thân phụ là Chánh Tổng nên Hòa Thượng đã sớm hấp thụ Nho học và Tây học từ thuở ấu niên. Vì thế, Hòa Thượng đã thông thạo cả Hán văn lẫn Pháp văn, kết hợp và dung hòa được cả hai truyền thống văn hóa Đông – Tây.
09/04/2013(Xem: 15755)
Hòa Thượng thượng Tâm hạ Thành. Thế danh là Nguyễn Ðức Huân sinh năm 1930 tại làng Trà Bắc, Phủ Xuân Trường, Tỉnh Nam Ðịnh, Miền Bắc Việt Nam. Năm 1942 khi vừa tròn 12 tuổi, Ngài ngộ lý vô thường và xuất gia học đạo với Sư Tổ Thượng Chính Hạ Ðĩnh tại chùa Yên Cư, Phủ Xuân Trường, Thuc Sơn Môn Trà Bắc. (Sơn môn Trà Bắc, Trà Trung và Trà Ðông thuc Tổng Trà Lũ, là hậu thân của Sơn môn Yên Tử). Ngài được Bổn Sư ban Pháp danh là Ngọc Tiểu Pháp hiệu Tâm Thành.
09/04/2013(Xem: 13367)
Mỗi lần đi Huế lòng tôi lại nao nao khôn tả. Huế là đạo, là thơ, là nghĩa tình ý vị, là tinh hoa văn hóa của ba miền đất Việt, nhưng cũng là mảnh đất khô cằn của đói nghèo khốn khổ “mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu cơm” đã hứng chịu nhiều thiên tai nhân họa. Huế được phong phú về mặt văn hóa, tâm linh là nhờ hình ảnh những vị đại lão hòa thượng nơi đây đã sống, hành đạo và xả báo thân. Dù đã viên tịch, dư hương các ngài vẫn như còn phảng phất nơi các ngôi tổ đình tĩnh lặng và những rừng thông bạt ngàn.
09/04/2013(Xem: 8810)
Giờ phút Thầy an nhiên xả báo thân, thì bên này hơn nữa đêm. Một Phật tử của Thầy ở miền Đông nước Mỹ, giọng đầm đìa nước mắt, khấp báo cho tôi tin Thầy đã từ biệt, lệ tiếc thương như tràn ngập, khắp đó khấp đây. Rồi Tuệ Sỹ, một hậu tấn, kẻ đồng tâm dễ thương của Thầy, mà tôi thường ví như một hạt kim cương hiếm hoi lẫn trong đá sỏi của Phật Giáo Việt Nam ngày nay, trong nổi cô quạnh bao la vừa sau một mất mát lớn lao đã ai tín cho tôi bằng lá thư không niêm mà tôi biết mỗi chữ cũng trĩu nặng nổi lòng.