Người Vẫn Còn Đây (Thành tâm kính lễ Giác Linh Đại Lão Hoà Thượng thượng Trí hạ Quang)

14/11/201912:22(Xem: 10745)
Người Vẫn Còn Đây (Thành tâm kính lễ Giác Linh Đại Lão Hoà Thượng thượng Trí hạ Quang)

Chan Dung Duc Truong Lao HT Thich Tri Quang_1923_2019

NGƯỜI VẪN CÒN ĐÂY

Thành tâm kính lễ Giác Linh Đại Lão Hoà Thượng thượng Trí hạ Quang



Cho con được gọi Ôn bằng Cố. 4 giờ sáng ngày 9/11/2019 (giờ Úc), con nhận được tin:
Cố đã xã báo an tường…bên ngôi Chùa Từ Đàm lịch sử, trước niềm kính biệt của hàng hậu tấn thân thương….
Dường như đôi mi đẫm ướt, dù con cố ngăn dòng lệ
Mắt nhìn tựa màn đêm, mặc cho ánh nắng rát da.
Cái cảm giác mất mát lớn lao bao trùm lên tất cả
Cả tâm tư, cả vũ trụ, cả miền ký ức….và cả những kỷ niệm được hầu cận bên người, mà đối với chúng con là một bầu trời phúc duyên!
Nhớ lại ngày ấy, tháng 10/2013 năm Quý Tỵ
Cố cần xem một bộ Vạn Tục Tạng Kinh (Đại Tạng Kinh)
Ôn Quang Nhuận, Ôn Hải Ấn dạy con tìm thỉnh giúp
Con y giáo phụng hành mà lòng vô cùng sung sướng
Nghĩ, phước lắm mới có được cơ may này…..
Thế rồi, con cũng thỉnh được kinh sau bao nổ lực
Còn Cố thì tiếp tục mang tuệ trí của người lưu truyền hậu thế
Khiến cho minh triết Phật Đà rạng chiếu nhân sinh…..
Rồi sau đó..
Mấy dịp về cố đô hầu cạnh Cố
Những lời sách tấn, những nụ cười từ ái của Cố
Như một kim chỉ nam, như nhựa sống huân dưỡng đời tu.
Ôi!
Còn hạnh phúc nào hơn khi được đảnh lễ bậc Bồ Tát
Người đã giành trọn đời mình cho Pháp mạch trường lưu.
Vậy mà giờ đây!
Trái tim của Cố đã ngừng đập, hơi thở của người đã quyện vào hư không…
Còn mất mát nào hơn, còn tổn thất nào bằng.
Dẫu vậy, nhưng con vẫn biết rằng:
Cố vẫn còn với chúng con trên từng trang kinh tụng
Cố vẫn nở nụ cười dẫn lối chúng con đi
Bởi, cuộc đời Cố là một bản trường thi
Âm vang mãi, nghìn đời bất tuyệt.
Giờ đây, trong giây phút tưởng niệm công đức của Cố
Xin cho phép chúng con được khể thủ dâng lên lời kính lễ:

NAM MÔ ĐẠI TRÍ ĐẠI HÙNG ĐẠI LỰC THÍCH TRÍ QUANG BỒ TÁT

Chùa Bảo Ân – Sydney, hạ nguyên năm Kỷ Hợi, 2019
Tỳ Kheo Ni Thích Nữ Huệ Khiết, Kính dâng!



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10142)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9106)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 10599)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9079)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 8551)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 8705)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
09/04/2013(Xem: 9798)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 9850)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12769)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8233)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.