Lửa Hiền Bừng Không (thơ)

11/11/201907:04(Xem: 13476)
Lửa Hiền Bừng Không (thơ)

Thich Minh The (3)


Lửa Hiền Bừng Không.


Gậy thiền chống dựng trời mây,
Mưa tuôn Ngọc lệ, tiễn Thầy quy phương.
Nhạm không ảnh hoá phiêu nhương.
Rong ba sấm tuệ, soi đường ngàn sau.

Cố Đô ứng hạnh niệm lầu,
Dòng Hương in bóng, ai sầu Cố Nhân.
Thiền Minh danh tự sáng ngần,
Danh Tăng Pháp học, hạc vầng trăm năm.

Trí uy hùng bồ đề Tâm,
Quang minh hạnh nguyện, độc thầm chân tu.
Hạnh từ Bồ Tát chân như,
Thông lầu kinh Tạng, tàng thư trầm hùng.

Giã hành tứ đại dung thông,
Lưu hình sắc tướng, sắc không bản huyền.
Mộng tan cảnh mộng uy nguyên,
Dung hành hoá kiếp, lửa hiền bừng không.

Chín bảy năm ngọn đào phong,
Chính Ngài an trú, cõi lòng không chơn.
Kiếm thời tạm gác thua hơn,
Ôm Tàng vô tận, cung đàn kinh thi.

Ứng Thân Bồ Tát huyền vi,
Chữ Tu hầu Mẹ, nguyện ghi trọn đời.
Ứng Thân lệnh kiếp rung trời,
Đức hành Năm huấn, rạng ngời huyền Tây.

Hoá duyên mãn kiếp cõi này,
Cố An nhiên tịch, lời Thầy chiếu bang.
Không gì nghĩa cũng hoàng không,
Chỉ im mật ngữ, sấm vang ngàn đời.

Thich Minh The (1)Thich Minh The (2)Thich Minh The (3)Thich Minh The (4)Thich Minh The (5)
NAM MÔ LÂM TẾ TÔNG TỨ THẬP NHẤT THẾ, NGUYÊN THIỀU THIỀN PHÁI, HÚY THƯỢNG NHẬT HẠ QUANG TỰ TRÍ QUANG HIỆU THIỀN MINH BỒ TÁT MA HA TÁT.

Chúng con Tk: Thích Minh Thế, hàng hậu học giữa thời hoà bình, nương Đức từ của Ngài, bật long trượng thiền gia, cho chúng con tu học trong những năm tháng bên ngôi nhà chánh pháp.
Chúng con đã về bên Đức Ngài, trong mùa đông xứ Huế, quỳ trước dung ảnh, bên không sắc thị tướng kim quan, chấp đôi tay bé nhỏ, lặng nghe giọt mưa thấm vào trong cõi không tịch lặng.
Im lặng và hùng tráng, thanh tịch bậc chân tu, xa từ lòng dung dị, sấm tiếng rống trời Tây.
Chúng con, mong Đức Ngài thị tướng lưu thân trong ngọn lửa bất diệt giữa thời Phục Hưng tìm nguồn tuệ giác trong áo nghĩa huyền thi.
Chúng con kính Khể Thủ.
Hàng hậu học..!
Ngày 14-10- Kỷ Hợi.
Viết tại hiên chùa Từ Đàm, nơi lưu dấu nhục Thân Đức Ngài, trong không gian tịch lặng.



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 8995)
Đức Đại Lão Hòa Thượng Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN là thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán, Pháp danh Trừng Nguyên, Hiệu Đôn Hậu. Xuất gia và thọ cụ túc với Hòa Thượng Bổn sư là Tổ Tâm Tịnh, khai sơn chùa Tây Thiên Huế, sau các Pháp huynh là quý Hòa Thượng Giác Nguyên, Giác Viên, Giác Tiên, Giác Nhiên...
09/04/2013(Xem: 10700)
Từ ngày 18-23/5/1996 HT.Thích Minh Châu, Phó CT kiêm Tổng thư ký GHPGVN, Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, Hiệu trưởng trường CCPHVN... đã lên đường đến Thái Lan để nhận bằng Tiến Sĩ Phật Học Danh Dự (Honarary Doctorate Degree in Buddhist studies) tại Đại Học Phật Giáo Mahachulalongkornrajvidyalaya, Thủ đô Bangkok, Thái lan.
09/04/2013(Xem: 12782)
Thiền sư THÍCH ĐỨC NHUẬN, pháp hiệu Trí Tạng, thế danh Đồng Văn Kha, sinh ngày 14 tháng Chạp năm Quí hợi (thứ bảy, ngày 19 tháng giêng, 1924). Chính quán : làng Lạc Chính, xã Duyên Bình, huyện Trực Ninh, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Thân phụ là Đồng Văn Trung và thân mẫu là bà chính thất Hà Thị Thìn hiệu Trinh Thục (cả hai vị đều đã mãn phần). Là con thứ tư trong một gia đình thanh bần - dòng quí tộc. Ngài có 2 anh, 1 chị và 3 người em dì bào (2 trai, 1 gái).
09/04/2013(Xem: 7597)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, thế danh là Lâm Văn Tuất sinh năm 1897 (Đinh Dậu) tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Thân sinh là cụ Lâm Hũu Ứng và bà Nguyễn Thị Nương.
09/04/2013(Xem: 10325)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9712)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 10984)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9436)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 8971)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 8903)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.