Hạt tâm kết tụ

14/11/201907:30(Xem: 11627)
Hạt tâm kết tụ

On Tri Quang 2

Hạt tâm kết tụ


Nơi vườn đời dị thảo
Sen nở ngát tình thương 
Nhuỵ đài gieo ngũ sắc 
Tỏa vị hương chân thường

Giữa thế gian phiền trược
Tâm các bậc chân tu
Chuyển núi cao ngã chấp
Hoá tư tưởng hận thù

Thành đống lương thạc đức
Lên tươi mát thế gian
Một Trái Tim Quảng Đức
Chiếu diệu khắp phương ngàn


Đi giữa dòng tục đế
Một tâm gương Trí Quang
Lưu bộ Răng, Xương Xọ
Toả sáng Ánh Đạo Vàng

Soi thế gian u tối
Xoa dịu nỗi lầm than
Hướng tư duy mục nát
Thành vườn tâm địa đàng


NGƯỜI về nơi vô ngã
NGƯỜI về nơi vô sanh
Nơi tâm hương nguyện lực
Sống động Bát Nhã Hành

Trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam rất nhiều các bậc cao Tăng thạc đức tuy sống giữa vô thường vẫn để lại một tín hiệu gì đó cho thế gian, cho hàng hậu học nhìn vào mà tăng trưởng niềm tin, khi con mắt bình thường của thế gian khó nhận ra những điều vi diệu. Trong vô số đó đã có một số ít trường hợp vẫn chỉ rõ cho chúng ta thấy, các Ngài đã vượt cả không gian và thời gian để lưu lại một phần nào từ Báo Thân, như trường hợp Lục Tổ Huệ Năng (Ngài là người Việt, vì thời đó vùng đất Lưỡng Quãng chưa bị mất vào tay Trung Quốc) đã lưu lại Nhục Thân hiện vẫn còn chưng thờ tại Chùa Hoa Nam. Chùa Đậu ở Hà Tây miền bắc nay vẫn còn lưu lại Nhục Thân của hai vị thiền sư là Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường từ cách nay khoảng 300 năm. Thời hiện đại đã có các bậc Tùng Lâm Thạch trụ và cũng là chứng nhân của thời cuộc, đó là Bồ Tát Thích Quảng Đức, hơn nửa thế kỷ trước đã đốt thân cúng Phật và kêu gọi bình đẳng tôn giáo từ một thể chế độc tài toàn trị, đã lưu lại một Quả Tim Bất Diệt. Cũng đồng thời, đồng chứng nhân và đồng thuyền cùng Bồ Tát Quảng Đức đó thì, hơn nửa thế kỷ sau lại có một bộ Xương Xọ, nguyên Bộ Răng của Thượng Nhân trưởng lão Trí Quang như một tấm gương Ánh Đạo Vàng, không chỉ cho khối Phật Tử mà có thể cho cả khối dân tộc đồng soi chung vậy.

Vẫn biết là thực tế đã thế, nhưng để được khách quan, chúng ta có thể trừu tượng một chút, bằng cách ví Trái Tim của Bồ Tát Thích Quảng Đức là biểu hiện của Từ Bi vô lượng và bộ Xương Xọ của Thượng Nhân Thích Trí Quang là Tuệ Giác vô biên.

Bởi bằng chứng rất hùng hồn và rõ ràng rằng quả tim thiêu cả từ 3-4 ngàn độ C mà vẫn không cháy. Và về tuệ giác thì cả một pho kinh luật luận, vừa trước tác, dịch thuật rất chuẩn mực suốt quãng đời của Người. Thế nên, với kẻ hậu học như con, con chỉ biết phủ phục kính lễ các bậc Đống Lương thay vầng trăng sáng soi bước đường hướng Phật.


Tuệ Minh-Thích Phước Toàn
November 11, 2019
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06/02/2013(Xem: 10552)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8852)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8817)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8806)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9882)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964
10/12/2012(Xem: 10083)
Cả cuộc đời 86 tuổi của Ngài Đội trời đạp đất, đã tròn chưa bản nguyện Kiếp tu hành 81 năm của Ngài Gánh vác hy sinh...
09/10/2012(Xem: 15571)
Thiền sư Lê Mạnh Thátcho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự. Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền phái Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ - Việt cũng như Việt - Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói:
01/10/2012(Xem: 8230)
Kính bạch Giác Linh Đức Thầy, Dẫu biết rằng: “Cuộc đời là ảo mộng, vạn vật vốn vô thường, chuyển di không ngừng nghỉ, biến diệt lẽ tự nhiên, tử sanh không tránh khỏi.” Nhưng ân đức cao dày, tình thương nồng thắm, Đức Thầy đã ban cho hàng đệ tử chúng con, chẳng những được kết thành giới thân huệ mạng, mà còn mang lại cho cuộc đời giải thoát của chúng con vô vàn hạnh phúc… Ân đức ấy, mãi mãi khắc sâu vào cuộc đời tu học của chúng con vô cùng vững chắc, dù cho thời gian, sự vô thường có thay đổi...
22/09/2012(Xem: 9903)
Ni sư Thích Nữ Như Phụng nguyên là viện chủ chùa Long Vân , sinh tiền Ni sư là cố vấn ni chúng chùa Long Vân , làm Hóa chủ trường hạ trong 6 năm , trưởng phòng châm cứu từ thiện của chùa,thành viên mặt trận tổ quốc xã Tam Phước , trưởng bếp cơm từ thiện Bệnh viện đa khoa Long Thành. Suốt cả cuộc đời ni sư tận tụy cho sự nghiệp tu hành và hoằng dương Đạo pháp , một lòng chuyên tâm Niệm Phật A Di Đà , công quả viên mãn Ni sư an nhiên tự tại vãng sanh trong lúc đứng Niệm Phật cùng đại chúng trên Đại hùng bảo điện không gian tràn ngập hương cúng dường thanh tịnh .Sau khi làm lễ trà tì ngài để lại rất nhiều xá lợi minh chứng cho công đức tu hành tinh nghiêm của một vị cao ni.
21/09/2012(Xem: 13893)
Phật hoàng Trần Nhân Tông, tên húy là Trần Khâm, sinh ngày 07/12/1258 (11/11/Mậu Ngọ), con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Hoàng Thái hậu Nguyên Thánh. Thân hình Ngài có những đặc điểm khác thường, nhất là có màu vàng, nên được vua cha đặt cho biệt hiệu là Phật kim.