Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. [email protected]* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Tâm hương đưa tiễn Thượng Tọa Thiện Minh

24/07/201807:33(Xem: 7763)
Tâm hương đưa tiễn Thượng Tọa Thiện Minh

Su Thich Thien Minh-3

TIỄN BIỆT NGƯỜI  ĐI

(Tâm hương đưa tiễn Thượng Tọa Thiện Minh)


 

Thế giới bàng hoàng nhận hung tin

Trần gian vắng bóng Sư Thiện Minh!

Lòng nghe thắt nghẹn bao hoài niệm

Cảm xúc dâng cao những nghĩa tình….

 

Dạo này ở Hoa Kỳ, tôi vừa tiếp xúc nhiều Sư thuộc Nam Tông, một vị là pháp hữu Nam Tông Khmer cũ cùng lớp đến thăm tiểu bang Ohio, Hoa Kỳ, một vị giáo thọ sư ở trường hạ Lâm Tỳ Ni, Boston, một pháp hữu Nam Tông điện thoại thăm tôi từ Cali, một vị Sư ở Chicago, đặc biệt ngày hôm qua, tôi vừa nhắn tin thăm hỏi một vị Pháp Hữu ở Thủ Đức, Việt Nam về tình hình Phật Giáo và những thành tựu trong công việc Phật sự, trong đó có nhắc về Sư Thiện Minh (xin phép Giác Linh Thượng Tọa được gọi là “Sư” thân thương như thuở sinh tiền) thì hôm nay Sư đã ra đi. Thật là bất ngờ, bàng hoàng, lòng tôi dấy lên những nỗi niềm xúc cảm và hoài niệm với bao nhiêu kỷ niệm ân tình đối với Sư Thiện Minh

Tôi có duyên được quen biết và thân thiết với Sư khi học ở Đại Học Phật Giáo Vạn Hạnh (ĐH Vạn Hạnh) Khóa III, niên khóa 1993-1997, tôi ngồi cùng bàn với Sư, bàn cuối, sát tường, tổ 4, lúc đó tôi là Tổ Phó. Vì Hán Văn, Hoa Văn, Anh Văn và Pali là 4 ngoại ngữ có trong chương trình học đó, cho nên tôi dốc sức đầu  tư và định hướng sẽ sử dụng lâu  dài  sau  này cho nên ngoài Chương Trinh Cử Nhân Phật Học. Buổi chiều và tối, sinh viên lớp chúng tôi thường đi học ở các Trung Tâm Ngoại Ngữ bên ngoài và thường mang bài vở môn ngoại ngữ đến ĐH Vạn Hạnh  để tranh thủ làm. Tôi với Sư cùng tuổi và lúc đó còn trẻ (25 năm trước), tôi say sưa học ngoại ngữ và tiếp thu vào nhanh lắm, nhớ dai, thuộc công thức và văn phạm, ngay cả môn Pali, tôi cũng đại diện cho Tổ 4 lên làm bài tập trên bảng tại lớp (cùng với một Thầy, đơn vị Đà Lạt, tổ 2), nên Sư rất khen ngợi  tôi và thường nói : “Biết bao giờ tôi mới học giỏi, nhất là các môn ngoại ngữ, như Thầy Đồng Trí?Thầy Đồng Trí lợi hại quá!”, tôi chỉ mỉm cười và nói : “Có công mài sắt có ngày nên kim”.

Sư là một người chất phác, hiền hòa, khiêm tốn, tế nhị, mộc mạc dễ thương, đúng phong cách của người dân miền Tây Nam Bộ và thấm nhuần Thiền vị trong Thiền môn từ thuở nhỏ. xuất gia lúc 11 tuổi, Sư rất tôn trọng hệ phái Bắc Tông và không có một chút cách biệt, so đo cao thấp đối với các hệ phái khác cùng tu tập và sinh hoạt tại Việt Nam và trên thế giới. Trước ngày tốt nghiệp ĐH Vạn Hạnh, Sư có dẫn tôi đến thăm chơi Chùa Kỳ Viên - Saigon và tặng một cuốn sổ tay, trong đó có ghi địa chỉ Chùa và số điện thoại liên hệ với Sư, có pháp danh, cả thế danh với chữ ký của Người.

Thế rồi, sau khi tốt nghiệp xong ĐH Vạn Hạnh năm 1997, nhiều Cựu Sinh Viên Khóa III chúng tôi lên đường du học Ấn Độ, lúc đó Sư còn ở lại Việt Nam. Tôi say sưa trau dồi Anh Văn Phật Học, Pali, Sanskrit tại Ấn Độ, thời gian ngắn sau đó thì chợt đọc các dịch phẩm của Sư, ví dụ dịch phẩm “Chín yếu tố phát triển Thiền Quán” của Thiền Sư Kundalàbhivamsa, Sư dịch và phổ biến năm 1998.  Tôi chợt mỉm cười :“sao nhanh thế nhỉ, đúng như lời Sư nói: “Trong kiếm hiệp, 3 ngày không gặp lại võ công khác”, Sư mới than thở học Anh Văn và ngoại ngữ khó quá vào năm ngoái cơ mà?”

Sau đó, từ Ấn Độ và Hoa Kỳ, tôi liên tục nhận được những hoan hỷ, bất ngờ về sự thăng hoa nhanh chóng và thành tựu vượt bậc của Pháp Hữu gần gũi ngày xưa của mình : Tiến sỹ từ Đại Học Anh Quốc dịch phẩm hàng loạt ấn hành, nhận học vị tiến sĩ danh dự, học hàm giáo sư danh dự, Hội đồng trường Đại học Apollos – Hoa Kỳ và trở thành một thành viên của Hội Đồng Khoa Học Trường này. Bây giờ đây điểm lại đời Người, chỉ cần với 49 năm thị hiện và 27 tuổi Hạ thôi, Người đã có những thành tựu to lớn và rất hiếm người có thể đạt được tương tự như vậy :

1/ Về Học Thuật :Sư tốt nghiệp Tiến Sỹ Đại Học Anh Quốc, được ban tặng Tiến Sỹ và Giáo Sư Danh Dự ĐH Apollos

2/ Về công trình khoa học : Sư là giảng viên ĐH Vạn Hạnh, Phó Giám đốc Trung tâm Pali học, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Ban Biên Tập các đặc san báo chỉ Phật Giáo,tạp chí Phật Giáo Nguyên Thủy, Báo Giác Ngộ,  giảng Pháp rất nhiều ở Chùa Phổ Quang, Chùa Giác Ngộ, Chùa Long Thành, các Tịnh Xá thuộc hệ phái Nam Tông với phong cách giảng nhẹ nhàng, sống động, gần gũi, hài hước, thực tế của người tâm hồn thuần túy trong Phật Pháp, cả đời ít vướng bụi nhơ thế tục, … làm người dẫn chương trình, điều hợp các Lễ Hội Phạt Giáo và Hội Thảo Quốc Tế như  Phật Giáo vùng sông Mê Kông, 13/11/2015. Sư đã dịch hơn 70 tác phẩm, với nhiều thể loại về Thiền, khảo cổ, kiến trúc, lo gic, nhiều bộ chú giải…Với 20 năm dịch thuật mà hơn 70 dịch phẩm như thế, trung bình mỗi năm gần 4 dịch phẩm, đây là một con số rất lớn lao, làm gương cho bao  hàng dịch giả trong khi Sư còn bận rộn biết bao nhiêu Phật sự khác.

3/ Về việc xây dựng và quản lý cơ sở tự viện : Sư đã tiếp quản, tạo dựng, trùng tu, quản trị, quản lý 11tự viện, 7 chùa ở trong nước trải qua nhiều tỉnh thành : Vĩnh Long, Thanh Hóa, Bình Dương, Vũng Tàu, Saigon,….và 4 chùa ở nước ngoài, ở các đất nước Phật Giáo hoặc tôn giáo tâm linh phát triển : Cam Pu Chia, Ấn Độ, Miến Điện, Phần Lan. Có người cả đời không có duyên trụ trì Chùa nào, hoặc lo 1-3 chùa đã khó, so sánh như vậy mới biết Sư có khả năng, phước lớn và làm việc hiệu quả như thế nào?

4/ Đào tạo thế hệ kế thừa : Sư độ được vài chục đệ tử xuất gia và hàng trăm tu nữ. Người có phước duyên và tài đức thế nào mới có được số lượng lớn đệ tử về nương tu học như vậy trong khi có vị tu sỹ cả đời không có một đệ tử xuất gia nào.

4/ Về các công tác Phật sự cho hệ phái và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam :

Giờ đây, chỉ cần đọc bảng cáo phó của Hòa Thượng Chủ Tịch Hội Đồng Trị Sự Trung Ương, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Cáo Tang và nêu rõ Sư với những trách nhiệm mà Sư đang làm thì đủ thấy Sư có vai trò to lớn và tài đức thế nào mới có thể chu toàn ngần ấy công việc Phật sự cùng lúc :

… vô cùng kính tiếc báo tin:

THƯỢNG TOẠ THÍCH THIỆN MINH

– Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam;

– Phó ban Từ thiện Xã hội Trung ương GHPGVN;

– Ủy viên Thường trực Ban Phật giáo Quốc tế Trung ương GHPGVN;

– Phó Giám đốc Trung tâm Pali học, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam;

– Ủy viên Ban Trị sự GHPGVN TP.HCM;

– Ủy viên Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Bình Dương;

– Phó ban Thường trực Ban Trị sự GHPGVN quận Thủ Đức, Tp.HCM;

– Phó Tổng Biên tập kiêm Thư ký Toàn soạn Tạp chí Phật giáo Nguyên Thuỷ;

– Quản sự Tổ đình Bửu Quang, quận Thủ Đức, Tp.HCM;

– Viện chủ chùa Đại Lộc, Ấn Độ; chùa Đại Phước, Myanmar; chùa Đại Hạnh; Campuchia;

– Trụ trì Thiền Viện Bồ Đề, Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; chùa Giác Hoàng, tỉnh Bình Dương; Thiền viện Thiện Minh, tỉnh Vĩnh Long; chùa Đại hoá, tỉnh Thanh Hoá.

Có được bao nhiêu người trong chúng ta có thể đảm trách nhiều vai trò, công việc như thế trong cùng một nhiệm kỳ?
Một kỷ niệm công việc Phật sự cuối cùng với Sư là một năm trước đây, vào cuối tháng 03/2017, Sư nhờ tôi – với tư cách là Giám Đốc Trung Tâm Phiên Dịch Phật Học Anh Việt – Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam - đọc và hiệu đính  bản dịch của Sư từ tác phẩm : Luận Lý Học Phật Giáo (Buddhist Logic) của FTh Stcherbatsky. Đây là tác phẩm rất quan trọng làm tài liệu hiếm hoi cho bộ môn học này tại Đại Học và nhiều Cao Đẳng Phật Học trong nước. Tôi lại tiếp tục bất ngờ ở vốn liếng tiếng Hán Việt phong phú của Sư và sự nhuần nhuyễn trong sáng của Tiếng Việt cũng như hiểu biết về Sanskrit và Bắc Tông mà Sư sử dụng trong khi dịch thuật cuốn sách đó. Sư rất tích cực làm việc cho dù lúc đó Sư cũng có nhiều  bệnh duyên, không khỏe. Rất tiếc là lúc đó tôi có nhiều Phật sự khác nên không hiệu đính hết và viết lời tựa cho bản dịch của Sư mà nhường lại cho người khác, dù tôi đã cố gắng hiệu đính và góp ý hơn 48 trang rồi,...


Su Thich Thien MinhSu Thich Thien Minh-2Su Thich Thien Minh-3Su Thich Thien Minh-4Su Thich Thien Minh-5Su Thich Thien Minh-6Su Thich Thien Minh-7Su Thich Thien Minh-8TT Thich Thien Minh



Sư Thiện Minh !

Xin được thay mặt cho bao nhiêu người quen biết và đang còn ở lại, tri ân Sư rất nhiều :

  • Về những đức tính tốt trong cuộc sống :khiêm tốn, ôn hòa, nhã nhặn, lịch sự, nhẫn nại, hòa đồng, bao dung có như vậy mới tương tác, ứng nhân xử thế hiệu quả, làm được nhiều việc và mang lợi lạc đến nhiều người như Sư giảng giải : “sống ở đời cần có một chút thông cảm, một chút tha thứ - như vậy mới có phương trời thong dong”.
  • Về sự cần cù, tinh tấn Ba La Mật : Sư có rất ít thời gian để quan tâm đến sức khỏe của mình mà chỉ lo công việc với công việc…Đánh giá một đời người không phải đánh giá người đó sống bao lâu mà là cân nhắc người đó đã sống như thế nào, mang lại lợi ích cho ai và để lại những gì cho đời. Với 49 tuổi đời, 27 hạ lạp mà Sư thành tựu ngần ấy Phật sự, thật là ấn tượng và nêu gương sáng cho bao thế hệ tiếp nối như Sư thường trích dẫn câu danh ngôn trong các bài giảng :“Thiên tài là chuỗi dài của sự nỗ lực”, bí quyết thành công của người tu là cần cù, siêng năng, nỗ lực không ngừng,…
  • Về tâm hồn thanh cao : không có thời gian, không có chỗ cho những chuyện thị phi, buông lung, giỡn cợt, bụi trần đeo bám, luôn huân tập trong Đạo Pháp và nếp hạnh Thiền Môn, luôn dồn hết thời gian và tâm trí với chí hướng phụng sự, tích lũy nhiều thiện Pháp,…
  • Về kinh nghiệm hoạt động: như Sư đúc kết muốn thành tựu trong Phật sự, cần gồm đủ “5 chữ T” : “Tâm, Tầm, Tẩm, Tổ, Tiền”, trong đó, Tâm : tâm cống hiến phụng sự cho Đạo Pháp, chúng sanh, Tầm : đẳng cấp, tầm vóc, trí tuệ, đạo hạnh, chiến lược, Tẩm : tẩm bổ, chăm sóc sức khỏe để đủ sức lo Phật sự, Tổ : khéo léo trong tổ chức, Tiền : có tài chánh mới lo các việc được. Trong một trường hợp khác Sư nêu ra 4 yếu tố quan trọng :“Quan hệ, tiền tệ, hậu duệ, trí tuệ”, ngoại giao tốt, tài chánh mạnh, nhân lực đủ và trí tuệ sáng suốt. Trong nghệ thuật quản lý, Sư nêu rõ : “Nước trong quá thì  không có cá, đục quá thì cá chết”, nghĩa là không quản lý chặt chẽ khắt khe quá cũng như không thể bỏ mặc – cảm thông, yêu thương, bao dung, tha thứ, quan tâm vừa đủ và còn chừa chỗ cho họ sáng tạo và thư thái, dễ chịu,…Sư đã đóng nhiều vai, thầy, bạn, học trò, khai thác sở trường, cái hay, cái đẹp bên trong mỗi người với tâm cởi mở, biết lắng nghe, cầu tiến, thoải mái, nhẹ nhàng, không phải dùng quyền hành, phép tắc, khô khan, máy móc, khiến cho bản thân cứng nhắc, khó chịu đến nỗi : “suốt tháng không có nụ cười trên môi.”( theo lời Sư)
  • Về những nghĩa tình riêng : cảm ơn duyên tri ngộ có được giữa Sư và tôi,những câu nói, nụ cười, hình ảnh thân thương của Sư vẫn sống mãi trong tâm trí của tôi. Sư không phải đóng vai kiểu cọ, nhân vật quan trọng hay né tránh mà luôn hiếu khách chào đón mọi người đến Chùa thăm Sư, nếu chưa gặp được Sư ân cần, niềm nở cáo lỗi và hẹn dịp khác đón tiếp. Bao nhiêu công việc và thành tựu của Sư, đó là động lực lớn lao, khiến tôi tiếp tục nỗ lực tinh tấn để có thêm những cống hiến cho Đạo, cho đời.

Nay duyên trần vừa mãn, Sư đã ra đi. Người đã ra đi nhưng người còn ở lại, Hoa Đàm tuy rụng vẫn còn hương.Giờ đây cây lá Bửu Quang bốn mùa xào xạc, sông nước Vĩnh Long ngày đêm rầm rì nhắc tên Người, bàn hương án sớm khuya đèn chong leo lét, hàng Tăng Ni Phật Tử khắp nơi bàng hoàng, thổn thức tiễn đưa. Cõi đời này các pháp hữu vi vốn vô thường huyễn giả, có hợp ắt có tan, có đến ắt có đi, đời người ai tránh sao khỏi công lệ bể dâu : sanh – lão – bệnh – tử, thế nhưng sự ra đi của một bậc tài đức với bao nhiêu Phật sự còn đang dang dở như Sư thì tránh sao khỏi bao nỗi ngậm ngùi, thương tiếc. Nhưng tôi tin tưởng đây chỉ là sự thay đổi lớp áo ngũ uẩn, Sư chưa vội vào niết bàn tịch tĩnh vô tung  bất diệt, không còn dấu vết mà còn trở lại trần gian này để tiếp tục bao nhiêu sự nghiệp còn đang bỏ dỡ, làm chỗ nương tựa và nơi đây, vẫn còn đó hàng vạn, hàng vạn người hữu duyên vẫn đang chờ bàn tay dắt dẫn của Sư,…

Chúng ta cũng như hàng môn đồ pháp quyến hãy biến đau thương mất mát này thành hành động thiết thực : hãy đọc tất cả những bài viết, sách dịch của Sư trong các đặc san báo chí, dịch phẩm, hãy nghe lại tất cả bài giảng của Sư để ôn lại những lời khuyến nhủ tâm tình trên con đường tu học, hãy kế thừa và lo cho tốt 11 cơ sở tự viện mà Sư để lại, an ủi, che chở và hỗ trợ, tôi luyện cho những đệ tử xuất gia của Sư và thay thế lo chu toàn các chức năng, trách nhiệm mà Sư còn đang dang dở trong nhiệm kỳ 5 năm này,…

Sư ơi, chúng ta ở gần mà xa, xa mà gần, mai này về thăm lại Tổ Đình Bửu Quang, Thiện Minh, Bồ Đề,… không còn gặp lại Sư với vóc dáng hình hài này để trà đàm, hàn huyên câu chuyện nữa, nhưng thấp thoáng giữa các tầng  mây, nơi không gian vô cùng, thời gian vô biên vẫn thấy Sư đang cười, với ánh mắt thân thương dõi bước chúng tôi đi. Có một điều tôi còn day dứt mãi, giá như tôi biết rõ hơn Sư dịch cuốn Lý Luận Học Phật Giáo trong cơn bạo bệnh, là dịch phẩm cuối đời,… thì cho dù là bận rộn bao nhiêu công việc tôi cũng đã bỏ tất cả để đọc kỹ lại, hiệu đính và viết lời giới thiệu cho Sư. Nhưng thôi, tình chỉ đẹp khi còn dang dở,… biết bao nhiêu cái “giá như”, “giá như”, cuộc đời thì chúng tôi phải tiếp tục sống, tiếp tục trải qua chứ không phải là mãi hoài cổ, tiếc thương cho những quá khứ lỡ làng.

Xin nguyện “thế thế sanh sanh đồng vi pháp lữ”, chúng ta mãi là thiện tri thức soi sáng, hoàn thiện cho nhau, những việc cần làm đã làm xong, Sư đã để lại cho Đạo, cho Đời quá nhiều, đến lượt chúng tôi, những người còn ở lại phải sống, thể hiện, làm việc, dấn thân, đóng góp để khỏi khập khiễng, phụ lòng khi gọi là : những pháp hữu và những người có duyên thân cận Tình Pháp, Duyên Tăng với Sư trong kiếp nhân sinh này.

Cầu nguyện hồng ân chư Phật dắt dìu Giác Linh Sư đến những cảnh giới an lành và trưởng dưỡng nhiều Đạo lực hơn nữa để hội nhập Ta Bà khởi sắc hơn, vững tay chèo thuyền Bát Nhã, vớt khách trầm luân, đưa tất cả đến bến bờ giải thoát an vui.

Một lần nữa và lần này nữa thôi xin được nói lời tri ân và chắp tay hoa sen chào nhau, tiễn biệt Người đi!....

Thiện Đức gieo trồng cả cuộc đời

Minh Triết sáng soi, Tuệ rạng ngời

Bửu bối bên trong gồm thâu đủ

Quang huy Phật Pháp khắp nơi nơi.

 

Hoa Kỳ, 21/07/2018

Hướng về Trường Cũ, Tình Xưa

Thích  Đồng Trí

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/10/2014(Xem: 14922)
Nhân Vật Phật Giáo Thế Giới, do TT Thích Nguyên Tạng biên soạn từ 1990
01/10/2014(Xem: 8516)
Pháp danh : Trừng Thành Pháp tự : Chí Thông, Pháp hiệu : Thích Giác Tiên. Thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 42 Thế danh : Ngài họ Nguyễn Duy húy là Quyển. Thọ sanh năm Canh thìn, niên hiệu Tự Đức đời thứ 33 (1879). Chánh quán làng Giạ Lệ Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1883, lên bốn tuổi thì song thân đều mất. Ngài được ông bà bác đồng tộc đem về nuôi dưỡng. Nhờ bẩm chất thông minh nên thân thuộc cho theo Nho học một thời gian. Nhận thấy giáo lý Phật đà mới là con đường hướng đến cảnh giải thoát ; từ đó, ngài xin với thân thuộc xuất gia đầu Phật. Năm 1890, được 11 tuổi, ngài cầu thọ giáo với tổ Tâm Tịnh.
01/10/2014(Xem: 8605)
Phật Giáo Việt Nam thời cận đại đã viết lên trang lịch sử bằng máu, xương của Chư Tôn Đức Tăng Ni và Phật tử. Dòng lịch sử ấy đã nêu cao tấm gương hy sinh bất khuất trước những đàn áp, bạo lực, súng đạn, nhà tù và lựu đạn. Phải chăng đây là một chặng đường lịch sử oai hùng mà Phật Giáo Việt Nam đã biểu tỏ tinh thần Đại hùng, Đại lực, Đại Từ Bi để vực dậy một nền văn hóa đã bị sụp đổ bởi một chế độ tha hóa, ngoại lai xâm nhập vào quê hương Việt Nam.
01/10/2014(Xem: 10279)
Trên dòng lịch sử Phật giáo Việt Nam thời cận đại của những thập niên 30-40 có bậc Tôn túc của Ni giới xuất hiện, đồng hành với chư Tăng để xiển dương Phật pháp, đào tạo Tăng tài, xây dựng tự viện, giữ gìn giềng mối đạo pháp được bền vững. Bậc Tôn túc của Ni giới ấy là SB Diệu Không, người đã hy hiến cả đời mình cho đời lẫn đạo, SB đã lưu lại cho hậu thế một hành trạng sáng ngời cho đàn hậu học noi gương.
09/09/2014(Xem: 14192)
Hòa Thượng Thích Giác Thông, tục danh Đổ Văn Bé, sinh ngày 18 tháng 2 năm 1939 tại Mỹ Hòa Hưng, Huyện Châu Thành, An Giang, Long Xuyên. Trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân Phụ là Cụ Ông Đổ Nhựt Thăng, Thân Mẫu là Cụ Bà Nguyễn Thị Khiên, Hòa Thuợng là người anh cả trong số 6 anh em ( 3 trai, 3 gái ), được nuôi dưỡng trong một gia đình nông dân hiền lành, có truyền thống đạo đức, nên từ nhỏ Hòa Thượng đã là người sớm có tư chất hiền lương, có tâm thương người mến vật, là con có hiếu với ông bà cha mẹ.
06/09/2014(Xem: 8374)
Không biết đây là lá thư thứ mấy con đã viết mà không bao giờ gởi đi, bởi vì con biết thư có vượt ngàn dặm trùng dương bay về thì Thầy cũng vẫn không cầm đọc được, chứng bịnh Parkinson đã làm cho hai tay Thầy run nhiều quá nhưng nhân mùa Phật Đản nhớ đến Thầy, con lại muốn viết. Thời gian sau này, con vẫn theo dõi thường xuyên sức khỏe của Thầy, con buồn vô cùng, Thầy đã bị bịnh, không thoát khỏi qui luật sinh, lão, bịnh mà con thì ở xa quá, không thăm viếng cận kề Thầy được như ngày xưa nữa !
05/09/2014(Xem: 17383)
Còn đây của báu trong nhà Không là ngọc bảo, không là hoàng kim Bình thường chiếc áo tràng lam Mà sao quý vượt muôn ngàn ngọc châu! Những năm cầu thực dãi dầu Sớm mai tụng niệm, đêm thâu mật trì Dòng đời mãi cuốn con đi Về nương chốn tịnh có Thầy, có Ôn… Kinh truyền ban phát khuyên lơn
02/09/2014(Xem: 12088)
“Đầu lông trùm cả càn khôn thảy Hạt cải bao gồm nhật nguyệt trong” Thiền sư Khánh Hỷ (1067–1142) thuộc dòng thứ 14, thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Sư họ Nguyễn, quê ở Cổ Giao, huyện Long Biên, thuộc dòng tịnh hạnh, từng được vua Lý Thần Tông phong chức Tăng Thống. Sách Thiền Uyển Tập Anh (Anh Tú Vườn Thiền) ghi lại cuộc đối thoại giữa ngài với Thiền Sư Bản Tịch ở chùa Chúc Thánh, nhân dịp ngài cùng với thiền sư đến nhà đàn việt để thọ trai, trên đường đi sư hỏi: Thế nào là ý chỉ của Tổ Sư? Sao thầy lại nghe theo nhân gian làm những chuyện đồng cốt mê hoặc? Bản Tịch đáp: Lời nói ấy đâu phải là không do đồng cốt giáng thần? Sư thưa: Chẳng phải là Hòa Thượng đùa bỡn con hay sao? Bản Tịch đáp: Ta chẳng hề đùa bỡn tí nào! Sư không nắm được ý chỉ của thầy bèn cáo biệt ra đi.
12/08/2014(Xem: 16729)
Cô là 1 nữ sinh trẻ nhất của Sài Gòn đã anh dũng ngã xuống trước họng súng của quân thù tàn bạo trong 1 buổi sáng mùa thu năm 1963 trước cửa chợ Bến Thành, với hàng ngàn sinh viên, học sinh và nhân dân phật tử trước cửa chợ Bến Thành. Và ngay sau đó, Thành hội sinh viên học sinh Sài Gòn đã quyên góp vận động ủng hộ xây bức tượng thờ người nữ học sinh anh hùng tuổi 15 đặt ngay công trường Diên Hồng trước cửa chính chợ Bến Thành ngày nay với sự chứng kiến của hàng ngàn người dân, phật tử thành phố và sinh viên, học sinh.
09/08/2014(Xem: 12958)
Hòa thượng Họ Đinh, húy Văn Nam, là đệ tử của cố Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Đệ nhất Tăng thống GHPGVNTN, pháp danh Tâm Trí, tự Minh Châu, pháp hiệu Viên Dung, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1918 (Mậu Ngọ) tại làng Kim Thành (Quảng Nam); nguyên quán làng Kim Khê, xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Thân phụ là cụ ông Đinh Văn Chấp và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Đạt. Gia đình Hòa thượng có 11 người anh em, Hòa thượng là con trai thứ tư trong gia đình. Vốn sinh trưởng trong gia đình vọng tộc Nho gia, thân sinh của Hòa thượng đỗ tiến sĩ Hoàng giáp năm 21 tuổi (khoa Quý Sửu 1913, niên hiệu Duy Tân thứ 7). Nhờ ảnh hưởng sâu đậm nền giáo dục của cụ ông từ bé, vì vậy Hòa thượng rất cần mẫn đèn sách, chăm chỉ học hành, trí tuệ phát triển sớm. Năm 1939, Hòa thượng đỗ bằng cao đẳng tiểu học Đông Dương; năm 1940 Hòa thượng đỗ tú tài toàn phần tại Trường Khải Định - Huế (nay là Trường Quốc Học); và cùng thời gian này, Ngài được bổ làm Thư ký Tòa Khâm sứ tỉnh Thừa Thiên. Sau một năm
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Most Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com
http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
[email protected]