Đôi lời cảm niệm

12/07/201817:27(Xem: 9232)
Đôi lời cảm niệm

Duc Phat Di Da
Đôi lời cảm niệm

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

Kính bạch HT Phương Trượng Tự Viện Pháp Bảo,

Kính bạch Chư tôn Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng, Ni,

Kính bạch Sư Cô Giác Anh,

Kính thưa Chị Diệu Vinh và các cháu thân mến,

Kính thưa Ban Hộ Niệm các chùa,

Kính thưa quý quan khách,

 

Hôm nay tại nghĩa trang Leppington này, không khí nơi đây dường như không khác nơi đạo tràng thanh tịnh, để tiễn biệt và chúc nguyện Chơn linh của một người đặc biệt, một bậc chơn nhơn vừa thuận thế vô thường, xả báo thân một cách nhẹ nhàng tự tại để về cõi Liên hoa Thượng Phẩm.

Ông Quảng Hạo vì hoàn cảnh và nghiệp duyên, đã xa Tăng đoàn khi đất nước Việt Nam nhiều binh biến; dấn thân vào cảnh đời cao thấp hơn thua của thế gian, nhưng tư cách tác phong của một người con Phật thuần thành vẫn vững vàng kiên định.

Bao nhiêu hoài bão và chí nguyện cao rộng đã lỡ dở của một thời làm tu sĩ, nhưng bù lại cho ông, đã hữu duyên có được một chủng tử đồng chơn nhập đạo là Sư Cô Giác Anh, với những hạnh đức tốt đẹp và đáng mến yêu. Chắc ông đã mãn nguyện nhiều với Sư Cô tài đức, chị Diệu Vinh đảm đang đầy đạo tâm và hai cô con gái Huệ Phúc, Huệ Đức tài giỏi, dễ thương và cháu Khoa dễ mến.

Không có gì sánh được công đức của ông Quảng Hạo đã tận tụy, lặn lội dù đang có bệnh duyên, vất vả từ miền Bắc Việt Nam xa xôi về tận Trung kỳ, nhiều gian nan khó nhọc để kiếm tìm tảng đá quý giá, điêu khắc nên hình tượng Đức Bổn Sư. Và Ngài đã hiện diện nơi Thiền Lâm Pháp Bảo, thành phố Sydney, Úc Đại Lợi.

Nhớ lại nhiều năm trước, khi Tâm Huệ cùng Sư cô Giác Duyên thừa lệnh Hòa Thượng, chư Tăng Ni và các Phật tử chùa Pháp Bảo về Việt Nam ba lần để cứu giúp phần nào những đồng bào nghèo khổ bất hạnh ở những vùng biên địa xa xôi theo khả năng có được của đạo tràng, Sư Cô và Tâm Huệ đều được Ông Quảng Hạo và Bà Diệu Vinh ân cần mời đón về nhà một cách hoan hỷ cởi mở. Chúng con/ chúng tôi còn nhớ, không lúc nào mà Ông không chia sẻ đọc ngâm những vần thơ đạo của Ông sáng tác cho nghe.

Sau chuyến đi từ thiện về, Ông đã tặng cho Sư Cô và Tâm Huệ bài thơ “Hoa Tâm” thật tuyệt vời.

Người đi gieo hạt tình thương

Lắng nghe tiếng khóc thê lương kiếp người

Trải lòng ra chia nụ cười

Mắt thương tỏa sáng hơn mười dặm xa

Thân sơ chung một mái nhà

Bốn phương huynh đệ gần xa tình người

Khơi dòng cho đất thêm tươi

Bóng râm tỏa mát che người với ta

Hoa tâm nở khắp Ta bà

Từ Bi réo gọi đưa ta lên đường”.

(Thơ, Quảng Từ Vân, Gởi Hương Cho Đất, trang 43).

 
quang_tu_van2

Đối với quý Thầy và quý đạo hữu, Ông đều sáng tác những bài thơ đầy ý nghĩa, đầy tình cảm đậm đà. Mỗi khi đi du ngoạn, Ông đều có những vần thơ tràn đầy ý đạo.

Tình cảm của Ông đậm đà sâu lắng, văn thơ của Ông chan chứa lời thiền. Ý thơ vô cùng thanh tịnh và đầy nghĩa thơ! Tâm tưởng của Ông ẩn chứa đạo tình thâm thúy. Sự kính ngưỡng Tam Bảo của Ông thật vẹn toàn.

Ông đã cảm xúc khi Phật Ngọc Hòa Bình đã về nơi đất nước quê hương: “Phật về mở cửa vô minh, khơi dòng suối mát nối tình chúng sanh… Phật về vui cả địa cầu, Đông Tây gần lại tình người bao la..”  Tấm lòng của Ông thật là thiện lành, chan rải… lời thơ đầy hương đạo! Cho nên bài thơ nào của Ông cũng khiến người nhạc sĩ viết nên ý nhạc. Ông đã có hỏi: “Phật hỏi con sao lâu về thế?” Thì nay người con ngoan đã trở về với Đấng Cha Lành và đã buông bỏ:

Bồng bềnh mấy kiếp tử sinh

Trần lao phủ kín không nhìn thấy ta

Khoan thai sáu chữ Di Đà

Cửa không nhẹ bước kìa là sen xanh”

Chúng tôi sẽ mãi nhớ đến Ông, mãi mãi thương quý Ông và sẽ luôn luôn chia sẻ với chị Diệu Vinh, với các cháu và với Sư Cô Giác Anh để nỗi đau buồn mất mát vô cùng kia sẽ trở thành sự thành tâm hoan hỷ trước sự buông bỏ nhẹ nhàng, thanh thản vi diệu của một bậc chơn nhơn đáng quý, đáng kính!

Xin thành tâm cảm ơn Ông Quảng Hạo về những cống hiến, về những hạnh đức cao quý của Ông mà chúng tôi xin học hỏi tán thán. Xin vô cùng hoan hỷ với những làn hương chiên đàn mà thi sĩ Quảng Từ Vân đã hoan hỷ Gởi Hương Cho Đất.

Kính nguyện cầu Chơn linh Ông Quảng Hạo sớm hội nhập Ta Bà, hoàn nguyện bản hạnh bản hoài “Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi” để hóa độ chúng sanh.

 

Nam Mô A Di Đà Phật.

PT Tâm Huệ

Đạo tràng Pháp Bảo, Sydney

27/6/2018

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 9047)
Đức Đại Lão Hòa Thượng Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN là thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán, Pháp danh Trừng Nguyên, Hiệu Đôn Hậu. Xuất gia và thọ cụ túc với Hòa Thượng Bổn sư là Tổ Tâm Tịnh, khai sơn chùa Tây Thiên Huế, sau các Pháp huynh là quý Hòa Thượng Giác Nguyên, Giác Viên, Giác Tiên, Giác Nhiên...
09/04/2013(Xem: 10704)
Từ ngày 18-23/5/1996 HT.Thích Minh Châu, Phó CT kiêm Tổng thư ký GHPGVN, Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, Hiệu trưởng trường CCPHVN... đã lên đường đến Thái Lan để nhận bằng Tiến Sĩ Phật Học Danh Dự (Honarary Doctorate Degree in Buddhist studies) tại Đại Học Phật Giáo Mahachulalongkornrajvidyalaya, Thủ đô Bangkok, Thái lan.
09/04/2013(Xem: 12857)
Thiền sư THÍCH ĐỨC NHUẬN, pháp hiệu Trí Tạng, thế danh Đồng Văn Kha, sinh ngày 14 tháng Chạp năm Quí hợi (thứ bảy, ngày 19 tháng giêng, 1924). Chính quán : làng Lạc Chính, xã Duyên Bình, huyện Trực Ninh, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Thân phụ là Đồng Văn Trung và thân mẫu là bà chính thất Hà Thị Thìn hiệu Trinh Thục (cả hai vị đều đã mãn phần). Là con thứ tư trong một gia đình thanh bần - dòng quí tộc. Ngài có 2 anh, 1 chị và 3 người em dì bào (2 trai, 1 gái).
09/04/2013(Xem: 7603)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, thế danh là Lâm Văn Tuất sinh năm 1897 (Đinh Dậu) tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Thân sinh là cụ Lâm Hũu Ứng và bà Nguyễn Thị Nương.
09/04/2013(Xem: 10330)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9729)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 10991)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9444)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 9056)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 8950)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.