Đôi lời cảm niệm

12/07/201817:27(Xem: 9261)
Đôi lời cảm niệm

Duc Phat Di Da
Đôi lời cảm niệm

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

Kính bạch HT Phương Trượng Tự Viện Pháp Bảo,

Kính bạch Chư tôn Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng, Ni,

Kính bạch Sư Cô Giác Anh,

Kính thưa Chị Diệu Vinh và các cháu thân mến,

Kính thưa Ban Hộ Niệm các chùa,

Kính thưa quý quan khách,

 

Hôm nay tại nghĩa trang Leppington này, không khí nơi đây dường như không khác nơi đạo tràng thanh tịnh, để tiễn biệt và chúc nguyện Chơn linh của một người đặc biệt, một bậc chơn nhơn vừa thuận thế vô thường, xả báo thân một cách nhẹ nhàng tự tại để về cõi Liên hoa Thượng Phẩm.

Ông Quảng Hạo vì hoàn cảnh và nghiệp duyên, đã xa Tăng đoàn khi đất nước Việt Nam nhiều binh biến; dấn thân vào cảnh đời cao thấp hơn thua của thế gian, nhưng tư cách tác phong của một người con Phật thuần thành vẫn vững vàng kiên định.

Bao nhiêu hoài bão và chí nguyện cao rộng đã lỡ dở của một thời làm tu sĩ, nhưng bù lại cho ông, đã hữu duyên có được một chủng tử đồng chơn nhập đạo là Sư Cô Giác Anh, với những hạnh đức tốt đẹp và đáng mến yêu. Chắc ông đã mãn nguyện nhiều với Sư Cô tài đức, chị Diệu Vinh đảm đang đầy đạo tâm và hai cô con gái Huệ Phúc, Huệ Đức tài giỏi, dễ thương và cháu Khoa dễ mến.

Không có gì sánh được công đức của ông Quảng Hạo đã tận tụy, lặn lội dù đang có bệnh duyên, vất vả từ miền Bắc Việt Nam xa xôi về tận Trung kỳ, nhiều gian nan khó nhọc để kiếm tìm tảng đá quý giá, điêu khắc nên hình tượng Đức Bổn Sư. Và Ngài đã hiện diện nơi Thiền Lâm Pháp Bảo, thành phố Sydney, Úc Đại Lợi.

Nhớ lại nhiều năm trước, khi Tâm Huệ cùng Sư cô Giác Duyên thừa lệnh Hòa Thượng, chư Tăng Ni và các Phật tử chùa Pháp Bảo về Việt Nam ba lần để cứu giúp phần nào những đồng bào nghèo khổ bất hạnh ở những vùng biên địa xa xôi theo khả năng có được của đạo tràng, Sư Cô và Tâm Huệ đều được Ông Quảng Hạo và Bà Diệu Vinh ân cần mời đón về nhà một cách hoan hỷ cởi mở. Chúng con/ chúng tôi còn nhớ, không lúc nào mà Ông không chia sẻ đọc ngâm những vần thơ đạo của Ông sáng tác cho nghe.

Sau chuyến đi từ thiện về, Ông đã tặng cho Sư Cô và Tâm Huệ bài thơ “Hoa Tâm” thật tuyệt vời.

Người đi gieo hạt tình thương

Lắng nghe tiếng khóc thê lương kiếp người

Trải lòng ra chia nụ cười

Mắt thương tỏa sáng hơn mười dặm xa

Thân sơ chung một mái nhà

Bốn phương huynh đệ gần xa tình người

Khơi dòng cho đất thêm tươi

Bóng râm tỏa mát che người với ta

Hoa tâm nở khắp Ta bà

Từ Bi réo gọi đưa ta lên đường”.

(Thơ, Quảng Từ Vân, Gởi Hương Cho Đất, trang 43).

 
quang_tu_van2

Đối với quý Thầy và quý đạo hữu, Ông đều sáng tác những bài thơ đầy ý nghĩa, đầy tình cảm đậm đà. Mỗi khi đi du ngoạn, Ông đều có những vần thơ tràn đầy ý đạo.

Tình cảm của Ông đậm đà sâu lắng, văn thơ của Ông chan chứa lời thiền. Ý thơ vô cùng thanh tịnh và đầy nghĩa thơ! Tâm tưởng của Ông ẩn chứa đạo tình thâm thúy. Sự kính ngưỡng Tam Bảo của Ông thật vẹn toàn.

Ông đã cảm xúc khi Phật Ngọc Hòa Bình đã về nơi đất nước quê hương: “Phật về mở cửa vô minh, khơi dòng suối mát nối tình chúng sanh… Phật về vui cả địa cầu, Đông Tây gần lại tình người bao la..”  Tấm lòng của Ông thật là thiện lành, chan rải… lời thơ đầy hương đạo! Cho nên bài thơ nào của Ông cũng khiến người nhạc sĩ viết nên ý nhạc. Ông đã có hỏi: “Phật hỏi con sao lâu về thế?” Thì nay người con ngoan đã trở về với Đấng Cha Lành và đã buông bỏ:

Bồng bềnh mấy kiếp tử sinh

Trần lao phủ kín không nhìn thấy ta

Khoan thai sáu chữ Di Đà

Cửa không nhẹ bước kìa là sen xanh”

Chúng tôi sẽ mãi nhớ đến Ông, mãi mãi thương quý Ông và sẽ luôn luôn chia sẻ với chị Diệu Vinh, với các cháu và với Sư Cô Giác Anh để nỗi đau buồn mất mát vô cùng kia sẽ trở thành sự thành tâm hoan hỷ trước sự buông bỏ nhẹ nhàng, thanh thản vi diệu của một bậc chơn nhơn đáng quý, đáng kính!

Xin thành tâm cảm ơn Ông Quảng Hạo về những cống hiến, về những hạnh đức cao quý của Ông mà chúng tôi xin học hỏi tán thán. Xin vô cùng hoan hỷ với những làn hương chiên đàn mà thi sĩ Quảng Từ Vân đã hoan hỷ Gởi Hương Cho Đất.

Kính nguyện cầu Chơn linh Ông Quảng Hạo sớm hội nhập Ta Bà, hoàn nguyện bản hạnh bản hoài “Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi” để hóa độ chúng sanh.

 

Nam Mô A Di Đà Phật.

PT Tâm Huệ

Đạo tràng Pháp Bảo, Sydney

27/6/2018

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 12422)
Một sinh thể đã xuất hiện trong cuộc đời như chưa từng có, đến lúc từ giã ra đi cũng thật nhẹ nhàng như cánh nhạn lưng trời. Vốn xuất thân từ dòng dõi trâm anh thế phiệt, được bẩm thụ cái gen của tổ phụ từng nổi tiếng văn chương, lại hấp thụ tinh hoa của địa linh sông Hương, núi Ngự - một vùng đất được xem là cái nôi của văn hóa Phật giáo miền Trung. Khi trưởng thành, thể hiện phong thái của một bậc nữ lưu tài sắc vẹn toàn, nhưng túc duyên thôi thúc, sớm rõ lẽ vô thường, dễ dàng từ bỏ cảnh phú quí vinh hoa, hâm mộ nếp sống Thiền môn thanh đạm.
10/04/2013(Xem: 8777)
Cư sĩ Tâm Minh- Lê Đình Thám sanh năm Đinh Dậu (1897) tại làng Đồng Mỹ (Phú mỹ), tổng Phú Khương, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam-nay là tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng. Ông xuất thân trong một gia đình quyền quí nhiều đời làm quan.Thân sinh là Binh Bộ Thượng Thư Lê Đỉnh ở triều Tự đức.
10/04/2013(Xem: 9263)
Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, thế danh là Nguyễn Văn Kỉnh, sinh ngày 17 tháng 11 năm Tân Mão (1890), tại làng Dưỡng Mông Thượng, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Thân sinh là cụ ông Nguyễn Văn Toán và cụ bà Tôn Nữ Thị Lý. Ngài là con trai thứ ba trong gia đình, bẩm tính thông minh, năm 15 tuổi Ngài đã tinh thông Nho học rõ lẽ xuất xứ ở đời, nhưng với chí khí xuất trần, muốn vươn tới một phương trời cao rộng Ngài đã xin phép song thân được xuất gia tầm sư học đạo.
10/04/2013(Xem: 14273)
Đại Lão Hoà Thượng Pháp danh Thượng Quảng Hạ Liên, Tự Bi Hoa, Hiệu Trí Hải thế danh Nguyễn Văn Chính, sinh năm 1926 – Bính Dần tại Sông Cầu – Tỉnh Phú Yên, trong một gia đình túc nho, tiểu thương, giàu lòng kính tin tam bảo, Hoà thượng là con thứ 8 trong gia đình với 09 Anh Chị Em được thân phụ là Cụ Ông Nguyễn Văn Phân – PD. Nhựt Minh và thân mẫu là cụ bà Võ Thị Dưỡng – PD.
10/04/2013(Xem: 9200)
Ngài thế danh là Nguyễn Xuân pháp danh Thanh Phong pháp tự Hoàng Thu hiệu Như Nguyện. Sinh ngày 01/06/1937 tai thôn Phú Cấp xã Diên Phú huyện Diên Khánh tinh Khánh Hoà. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Ðối thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Lẻo pháp danh Trừng Lan. Ngài là anh cả trong 4 anh em.
10/04/2013(Xem: 14461)
Viết thêm một bài về Ngài Thiện Minh, dù nhiều vị đã viết - Viết, vì thấy thêm một bài của Tâm Nguyên trên diễn đàn baovechanhphap - Viết, vì Mùa Hạ 2009, tịnh niệm An Cư, tưởng nhớ tiền nhân, làm gì cho hôm nay, và nhắc nhở hậu bối mai sau Tương chao nhà quê Tăng Lữ
10/04/2013(Xem: 12286)
Hòa Thượng Thích Tắc Thành - Trình bày: Chiếu Quang và Hoàng Lan
10/04/2013(Xem: 8997)
Hòa thượng thế danh Võ Văn Nghiêm, pháp danh Giác Trang, hiệu Hải Tràng thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông, đời thứ 41, sinh năm Giáp Thân (1884) tại làng Tân Quí, tổng Phước Điền Thượng, tỉnh Chợ Lớn. Thân phụ là cụ ông Võ Văn Nghĩa, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Tín. Ngài sinh trưởng trong một gia đình tín ngưỡng Tam Bảo thuần thành. Thân phụ Ngài là một vị hương chức trong làng, lúc tuổi ngũ tuần xin từ chức để xuất gia hiệu là Thanh Châu, đến 75 tuổi được phong Giáo thọ, sáng lập chùa Vạn Phước tại làng Tân Chánh, huyện Hốc Môn, Sài gòn. Ngài có hai anh em trai, người anh cả xuất gia được tấn phong Hòa thượng, hiệu Chơn Không.
10/04/2013(Xem: 8133)
Hòa Thượng THÍCH BẢO AN, húy thượng THỊ hạ HUỆ tự HẠNH GIẢI, thế danh LÊ BẢO AN, thuộc đời Lâm Tế Chánh Tông thứ Bốn mươi hai. Nguyên Hòa Thượng sanh năm 1914 (Giáp dần), tại thôn Tịnh Bình, xã Nhơn Hạnh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh, trong gia đình Lê gia thế phiệt, vốn dòng môn phong Nho giáo, đời đời thâm tín Tam Bảo, tôn sùng Ðạo Phật. Thân phụ là cụ ông LÊ PHÚNG, pháp danh NHƯ KINH, thân mẫu cụ bà TỪ THỊ HỮU, pháp danh NHƯ BẰNG, đức mẫu là cụ bà NGUYỄN THỊ CƠ, pháp danh NHƯ DUYÊN.
10/04/2013(Xem: 9140)
Hòa Thượng Thích Thiện Thanh thuộc dòng thiền Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 41, thế danh Nguyễn Văn Sắc, nguyên quán làng Phú-Nhuận, Nha-Mân, tỉnh Sa-Ðéc miền Nam nước Việt (nay thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp), sinh Năm Ất Hợi (1935) Niên hiệu Bảo Đại năm thứ 20. Song thân Ngài là Cụ Nguyễn Văn Xướng và Cụ Bà Huỳnh Thị Thâu đều kính tin Tam Bảo.