Cảm tạ Tang lễ Phật tử Quảng Hạo

29/06/201810:23(Xem: 11263)
Cảm tạ Tang lễ Phật tử Quảng Hạo

 

Le di quan_Phat tu Quang Hao (1-a) (2)Le di quan_Phat tu Quang Hao (28)Le di quan_Phat tu Quang Hao (51)
Cảm tạ Tang lễ

Cố Cư sĩ Quảng Hạo - Phạm Viết Vân

(1943-2018)

 

 

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,

Nam mô A Di Đà Phật,

Kính bạch trên HT Hội Chủ GHPGVN Thống Nhất Hải Ngoại tại UDL – TTL thượng Bảo hạ Lạc chứng minh

Kính bạch trên HT Thích Quảng Ba, Viện Trưởng Tu Viện Vạn Hạnh Canberra, chứng minh

Kính bạch trên HT Thích Bổn Điền, Trụ Trì Chùa Huyền Quang, chứng minh

Kính bạch trên chư Tôn Thượng Tọa, chư Ni Sư, chư Đại Đức Tăng, chư Đại Đức Ni, đồng chứng minh hộ niệm,

Kính bạch quí Ngài,

Ba chúng con là Cố Phật tử Quảng Hạo Phạm Viết Vân vừa vãng sanh ngày 22 tháng 6 năm 2018, hưởng thọ 76 tuổi. Quí Ngài đã vì lòng từ bi thương tưởng đến Chân linh Ba chúng con, cũng như từ bi nghe lòng thiết tha kiền thỉnh của gia đình chúng con, mà đã không quản ngại Phật sự đa đoan, đường xá xa xôi, đã đến khai thị, hộ niệm và tiễn đưa thân ngũ uẩn đời này của Ba chúng con vào sáng hôm nay. Ân đức cao vời này, chúng con không biết khi nào mới đền trả cho hết được. Chúng con kính nguyện Tam Bảo gia trì quí Ngài bốn đại điều hòa, sớm viên thành sở nguyện.

Chúng con cũng không quên thành kính cảm tạ quí Hòa Thượng Viện Chủ Chùa Giác Uyển Sài Gòn, HT Thích Hạnh Quang, và nhất là TT Thích Quảng Hòa đã thương Ba chúng con bay từ VN sang để đưa Ba chúng con ngày hôm nay.

Chúng con kính cảm ơn Giáo Hội PGVN Thống Nhất Hải Ngoại tại UĐL – Tân Tây Lan, Tu Viện Quảng Đức, Chùa Bồ Đề VIC, Chùa Giác Hoàng VIC, Chùa Pháp Bảo NSW, Ni Bộ Úc Châu, Chùa Liên Hoa, Chùa Long Quang, Chùa Giác Nhiên Tân Tây Lan, GDPT Pháp Bảo, HT Phương Trượng Viên Giác Đức Quốc, HT Phương Trượng Thiền Viện Minh Quang, HT Phương Trượng Chùa Bảo Vương, NS Viên Thông Chùa Quan Âm Nam Úc, NS Đồng Liễu VN, Giáo sư tiếng Phạn Lê Tự Hỷ, Tu Viện Huệ Quang Sài Gòn, Chú Nguyên Đạo - Văn Công Tuấn (Đức Quốc)… cùng hết thảy Quí Thầy, quí Sư Cô và quí Cô Chú Phật Tử, thế nào gia đình chúng con cũng có sơ sót, đã gửi tràng hoa, điện thư, câu đối, thơ viếng đến chia sẻ sự ra đi của Ba Quảng Hạo chúng con.

Chúng con cũng không thể nào quên tấm lòng của quí Cô, quí Chú, quí Bác Phật tử gần xa vùng Sydney đã đến hộ niệm cho Ba chúng con, cũng như an ủi chia sẻ với gia đình chúng con trong suốt 6 ngày vừa qua. Nếu không có quí Cô Chú, quí anh chị, quí huynh đệ… thì không biết mấy ngày nay, gia đình chúng con sẽ ra sao… Ân đức này gia đình chúng con xin ghi lòng tạc dạ.

 

Chỉ còn vài đôi giây phút nữa thôi, chúng con sẽ tiễn biệt thân giả tạm này của Ba, chúng con xin phép chư Tôn Đức và quí Bác cho chúng con có vài lời cảm ơn Ba:

Thưa Ba, đầu tiên cho chúng con dâng lời tri ân lên Ba Quảng Hạo, người đã cho chúng con cuộc sống vẹn toàn từ vật chất, đến tình thương không bờ mé. Người hướng dẫn con trên cuộc sống tâm linh. Khi chúng con còn bé nhỏ, chập chững biết nhận thức, Ba đã dạy chúng con biết quy kính Tam Bảo. Khi chúng con trưởng thành Ba đã dạy chúng con phải biết tu học, hy sinh cho Phật Pháp.

Nay tuy Ba đã xuôi theo luật Vô Thường mà vắng bóng trên thế gian này, nhưng đối với chúng con Ba như chưa bao giờ mất. Ba vẫn sống trong từng hơi thở, lời dạy của Ba sẽ mãi ảnh hưởng trong từng suy nghĩ của chúng con.

Hạc trắng bay về chốn núi xa

Sương khuya mờ ảo bóng Cha già

Lên non xuống biển tìm đâu nữa

Giữa cảnh trần gian con vắng Cha

                                                     (Thơ - Quang Tu Van)

Những ngày qua, khi quỳ bên linh cữu Ba, chúng con mới hiểu rằng tình thương của Ba dành cho chúng con là quá lớn, và chúng con luôn cần đến Ba. Con xin kính nguyện Tam Bảo gia trì cho Ba, với tình thương rộng lớn dành cho các con trong đời này, có thể đủ sức mạnh để biến thành lòng đại bi để Ba tiếp tục con đường giải thoát Ba hằng phát nguyện. Con xin Tam Bảo gia trì cho Ba có đủ sức mạnh để thoát khỏi sanh tử luân hồi, vãng sanh Tây Phương Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà. Ở nơi đó, Ba sẽ được liên hoa hóa sanh, tiếp tục tu học, để chứng quả Vô Sanh, sớm trở lại Ta Bà tiếp tục công việc Ba hằng thao thức.

 

Kính bạch chư Tôn Thiền Đức, kính thưa quí thân bằng quyến thuộc. Cũng vì tình thương quá lớn mà Ba Quảng Hạo đã dành cho chúng con, chúng con đã vô cùng chao đảo khi Vô Thường kéo đến. Nhưng may sao, chúng con lại được sự trợ duyên thù thắng của Chư Tôn Đức Tăng Ni và quí Phật tử thân hữu từ những giây phút đầu tiên. Chúng con không có ngôn ngữ nào để diễn tả hết lòng đại bi của quí Ngài và quí Cô, quí bác, quí anh, quí chị.

Chúng con thành tâm kính chúc Chư Tôn Đức pháp thể khinh an, đèn bi toả sáng, để mãi là ngọn đuốc soi đường cho chúng con. Chúng con kính chúc quí Bác luôn sống trong ánh hào quang an lạc và hạnh phúc của Chư Phật.

Trong lúc Tang gia bối rối, gia đình lại vắng vẻ, mặt dù chúng con đã cố gắng, nhưng thế nào cũng có nhiều sai sót thất lễ, chúng con kính nguyện quí Ngài từ bi hoan hỷ cho chúng con.

Sau cùng, chúng con xin được đảnh lễ quí Ngài và quí Vị ba lạy, để tỏ chút lòng thành đền đáp ân đức quí Ngài trong muôn một.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)                   (Lạy ba lạy)

 

Các con đồng kính lễ,

TKN Thích Nữ Giác Anh

PT Huệ Phúc – Phạm T Vương Liên

PT Huệ Đức – Phạm T Vương Anh

PT Như Giác – Nguyễn Đăng Khoa

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/02/2013(Xem: 11423)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 12694)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24051)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10054)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8592)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8484)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8367)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9513)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964
10/12/2012(Xem: 9785)
Cả cuộc đời 86 tuổi của Ngài Đội trời đạp đất, đã tròn chưa bản nguyện Kiếp tu hành 81 năm của Ngài Gánh vác hy sinh...
09/10/2012(Xem: 14971)
Thiền sư Lê Mạnh Thátcho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự. Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền phái Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ - Việt cũng như Việt - Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói: