Tiểu sử Phật Tử Quảng Hạo

26/06/201809:21(Xem: 9780)
Tiểu sử Phật Tử Quảng Hạo

quang tu van
Sơ lược đôi nét

Phật Tử QUẢNG HẠO – PHẠM VIẾT VÂN

Bút hiệu Quảng Từ Vân

(1943 – 2018)

 

 

Phật tử Quảng Hạo, thế danh Phạm Viết Vân, bút danh Quảng Từ Vân. Ông là một Phật tử thuần thành, không những bản thân Ông mà Ông còn hướng dẫn gia đình sống đời tín tâm với Tam Bảo.

Phật tử Quảng Hạo sinh năm Quý Mùi, 1943, vì thời thế tao loạn nên trong giấy tờ lấy ngày sinh là 10.4.1949. Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống Phật giáo tại miền Trung, Tam Kỳ, Quảng Nam Việt Nam. Thân sinh là cụ Ông Phạm Viết Bạn, thân mẫu là cụ Bà Võ Thị Quyên pd Quảng Thiệp.

Từ thời niên thiếu, Ông đã mến đạo, vào chùa Hòa An, thị xã Tam Kỳ Quảng Nam, lạy Thầy Bổn Sư là HT Thích Minh Thể (1900-1964) sống đời sống xuất gia, được Thầy ban pháp danh là Quảng Hạo.

Năm 1964 – 1967, Ông vào Nam tham học, lưu trú và tu học tại Phật Học Viện Huệ Nghiêm. Trong thời gian này, Ông có nhân duyên được đồng chúng Huyền Trang như quý Đại Đức Như Tín, Bảo Lạc, Thiện Trí, Ngộ Hạnh, Minh Thiền, Như Tạng… Trong đó có HT Thích Bảo Lạc, một bậc Thầy Ông hằn ghi tâm tôn kính.

Ban Giám Đốc Viện Phật Học Huệ Nghiêm lúc bấy giờ là HT Bửu Huệ, HT Thiền Tâm và HT Thanh Từ. Cho tới năm 1967, vì thời cuộc chiến tranh càng gia tăng, kinh tế khó khăn, Viện Huệ Nghiêm tạm thời giải tán. Tăng sinh bổn viện phân tán nhiều nơi theo khả năng và tâm nguyện. Trong số có 6 huynh đệ chung cùng chí hướng quyết định ra thành lập Lưu Học Xá Huyền Trang như ĐĐ Như Tín, Bảo Lạc, Thiện Trí, Ngộ Hạnh, Quảng Hạo, Minh Thiền; để tiếp tục vừa học vừa hành đạo.

Năm 1967 Ông đậu Tú Tài 1, năm 1968 đậu Tú Tài 2.

Cuối năm 1967 đến năm 1971, Tiếp nối vai trò Hiệu Trưởng của Thầy Thiện Trí, Ông làm Hiệu trưởng Trường Tiểu Học Bồ Đề Hạnh Đức (ngã tư Bảy Hiền, quận Tân Bình, Gia Định)

Trong thời gian này, Ông vẫn dạy tại các trường Bồ Đề Huệ Quang - chùa Huỳnh Kim Gò Vấp, Bồ Đề Hạnh Đức – Chùa Phổ Hiền, Tân Bình. Trường Hạnh Đức lúc này do HT Tâm Thanh làm Giám Đốc, Thầy Thiện Trí làm hiệu trưởng.

Từ năm 1972 – 1975, Ông làm Hiệu Trưởng trường Bồ Đề Quảng Đức.

Sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, Ông cùng hàng loạt tu sĩ Phật Giáo trở lại cuộc sống thế tục.

Những năm đầu sau biến cố, cả đất nước lâm vào sự nghèo đói. Nhưng Ông vẫn cùng gia đình, mỗi năm vào mùa Vu Lan Báo Hiếu, vâng lời Phật dạy, cung thỉnh chư Tăng về tư gia như pháp cúng dường. Đó cũng là dịp cho quí huynh đệ tu xuất gặp lại nhau.

Ông cùng một số thân hữu chúng Huệ Năng cố gắng duy trì nếp sống tri ân Thầy Tổ, mỗi năm về lại Phật Học Viện Huệ Nghiêm thắp hương cầu nguyện, chúc Thọ Thầy Viện Trưởng, cũng như cúng dường Tam Bảo.

Vì nhận thức rõ đời sống khắc nghiệt của chế độ hiện tại. Ông cùng người bạn đời là Phật tử Diệu Vinh, quyết tâm cho các con học nên người. Không đủ nhân duyên theo đường vượt biển, Ông và Bà quyết tâm hướng các con học hành để một ngày xuất ly du học. Hiện nay 3 người con của Ông đều đã du học và định cư tại Úc.

quang_tu_van2

Những ngày tháng ở tại Việt Nam, lúc nào Ông cũng tâm niệm hướng về Tam Bảo, cúng dường in Kinh tạo tượng, giúp đỡ hộ trì Tăng sinh trẻ, hết mình với quí anh chị em GĐPT chùa Hưng Quốc, chùa Khánh Vân Quận 11 và các Gia đình Phật tử khác. Mỗi chủ nhật Ông tham dự các đạo tràng để vừa tu học vừa hướng dẫn quí bạn Phật tử lớp sau. Nơi nào cần, Ông và gia đình đều phát nguyện góp phần công đức.

Ông còn là tác giả của Thi tập Gửi Hương Cho Đất, trong đó có bài thơ Phật Về đã được nhạc sĩ Vũ Ngọc Toản phổ nhạc, ngày nay được gieo duyên phổ biến thịnh hành trong làng nhạc Phật Giáo.

Ông và Đạo hữu Diệu Vinh cùng đoàn tụ gia đình tại Úc vào năm 2014. Qua quê hương thứ hai, Ông và Bà vẫn tiếp tục công phu hành trì theo thời khóa đều đặn của người Cư Sĩ. Ông không để phí thời gian, mỗi ngày gieo duyên với tiếng Phạn. Dù sức khỏe yếu, Ông vẫn tự học qua tài liệu của Giáo Sư Lê Tự Hỷ và Quách Nhiên Trần. Một tuần trước khi đi, Ông đã viết được bài Kinh Bát Nhã bằng tiếng Phạn. Ông Bà vẫn lấy việc cúng dường Tam Bảo, tu học Phật Pháp làm niềm vui sống. Đặc biệt Ông rất thiết tha kính quí ân đức của HT Phương Trượng Chùa Pháp Bảo thượng Bảo hạ Lạc.

Vào một chiều mùa đông ngày 22.6.2018 tại Sydney, sau thời Khóa tụng Kinh chiều, học tiếng Phạn, thăm hỏi chuyện trò với gia đình như thường lệ, Ông đã an tường xả báo thân vào lúc 4.15phút vào thời nghỉ ngơi trong ngày. Ông đã được HT Thích Bảo Lạc, TT Thích Phổ Huân, chư Ni sư Huệ Khiết, Như Như khai thị. Quí Ni Sư, SC An Hiếu, SC Tịnh Hiển, gia đình và quí bạn hữu Phật hộ niệm gần 10 tiếng đồng hồ.

Tang lễ của Ông được trang trọng diễn ra tại Sydney dưới sự từ bi thương tưởng chứng minh của Chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni mà Ông hằn cung kính, và quí vị cư sĩ Phật tử thân hữu gần xa. Nơi quê nhà, Lễ Truy Điệu cho Ông cũng được Chư Tôn Đức, quí thiện hữu tri thức, GĐPT, gia đình các cháu Nội, Ngoại tụng Kinh, thăm viếng… tại Sài Gòn và Tam Kỳ Quảng Nam.

Cuộc đời của Cố Cư sĩ Quảng Hạo Phạm Viết Vân là hình ảnh một đời phụng sự tín tâm với Tam Bảo. Ngày ngày vui với Kinh kệ và pháp Giải Thoát. Niềm tin “Phật Về” của Ông sẽ sớm viên thành như sở nguyện.

Nam mô A Di Đà Phật.

* Tiểu sử này, được sự từ bi chỉnh sửa của HT Pháp Bảo, và các conđồng phụng soạn theo những lời kể hiếm hoi của Ông.
Nam mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.



Ý kiến bạn đọc
26/06/201812:47
Khách
Được tin thân phụ của Sư Cô Thích Nữ Giác Anh đã mãn phần, đệ tử Tâm Quang xin thành kính phân ưu và xin có đôi vần kính viếng:
Vô thường cuộc thế đến rồi đi
Ai hẹn trăm năm có mấy khi
Thu tới trăng lên thôi xướng họa
Xụân về hoa nở hết đề thi
Ta bà ô nhiễm mau rời bước
Cực Lạc tịnh thanh gấp kịp thì
Bất thối Bồ Đề làm Đạo bạn
Có ngày trở lại tỏa Từ Bi
Tâm Quang
Brisbane, Trọng Đông 2018
26/06/201801:49
Khách
Nguyện cầu hương linh Cố cư sỹ Quảng Hạo siêu sinh an lạc Quốc, Nam Mô tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/06/2012(Xem: 26361)
Kính lạy tôn dung Ngài Con xin tìm lại dấu xưa 39 năm, hai thế kỷ sao vừa Nín thở, lặng yên, đọc từng con chữ
12/06/2012(Xem: 8921)
Hòa thượng họ Đỗ, huý Châu Lân, sinh năm 1927 (Đinh Mão) tại thôn Quan Quang, xã Nhơn Khánh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Đỗ Hoạch, và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Tú. Gia đình gồm năm người con, hai trai và ba gái; Hòa thượng Thích Đỗng Quán thứ ba, và Ngài là thứ tư. Gia đình Ngài đời đời thuần tín Tam bảo. Cha mất sớm, được mẹ chăm lo dạy dỗ. Với bẩm tánh thông minh và hiếu học, năm 11 tuổi Ngài thi đậu bằng Yếu lược. Việc này chưa xảy ra ở vùng quê của Ngài nên đích thân ông Lý trưởng đến thăm và chúc mừng. Đó là một vinh dự cho gia đình và quê hương Ngài lúc bấy giờ.
11/06/2012(Xem: 10192)
Sự nghiệp thiền sư Tăng Hội rất lớn lao. Nhờ vào những trước tác của Thầy mà ta biết được hành tướng của sự thực tập thiền tại trung tâm Luy Lâu Việt Nam và tại trung tâm Kiến Nghiệp Trung Quốc ngày xưa. Tư tưởng thiền của thầy Tăng Hội là tư tưởng thiền Đại Thừa, đi tiên phong cho cả tư tưởng Hoa Nghiêm và Duy Thức Bao giờ các chùa Việt Nam sẽ thờ tổ Khương Tăng Hội Hiện nay chúng ta đang ở thế kỷ XXI với nền văn minh rực rỡ, với nhiều thiết bị hiện đại, với mức sống rất cao, với vốn hiểu biết rất thien su khuong tang hoi.jpg
10/06/2012(Xem: 18756)
Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn, thế danh Trương Xuân Bình, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1933 (Quý Dậu) tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Việt Nam, là con thứ sáu trong một gia đình mười hai anh chị em. Thân sinh của Cố Trưởng Lão Hoà Thượng là cụ Trương Xuân Quảng, mất năm 1945, nguyên quán làng Kim Thành, quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, làm quan dưới thời Pháp thuộc, được bổ nhậm chức Kiểm Học (tương đương với Trưởng Ty Nha Học Chánh dưới thời các chính phủ quốc gia sau này) tỉnh Bình Thuận năm 1933 – 1939, và Đốc Học tỉnh Quảng Ngãi năm 1940 – 1945. Nhờ túc duyên với Phật Pháp, nên đến năm 1950, Cố Trưởng Lão Hoà Thượng đến Chù
06/06/2012(Xem: 18596)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, Pháp danh Thị Thủy, Pháp tự Hành Pháp và thế danh là Lâm văn Tức, sinh năm 1897 tại làng Hội Khánh, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa...
30/05/2012(Xem: 11573)
Tín Nghĩa tôi đến định cư Hoa Kỳ vào ngày 19 tháng 09 năm 1979, do nhị vị Hòa thượng Thích Thiên Ân và Hòa thượng Thích Mãn Giác bảo lãnh từ trại tỵ nạn Hongkong. Ngồi tính sổ thời gian thì cũng đã gỡ gần ba chục cuốn lịch. Giá như thời gian này mà ở trong tù thì cũng mục xương và chẳng bao giờ được thấy ánh sáng của thiên nhiên.
27/05/2012(Xem: 26881)
Tác phẩm Trí Quang Tự Truyện bản pdf và bài viết "Đọc “Trí Quang Tự Truyện” của Thầy Thích Trí Quang" của Trần Bình Nam
15/05/2012(Xem: 9340)
Trong đạo lập thân của người xưa – lập công, lập đức, lập ngôn– thì lập ngôn thường được cho là quan trọng nhất, vì đó là phần “hình nhi thượng”, là tinh hoa tư tưởng cá biệt của một dòng đời mang tính truyền thừa lâu dài và sâu xa cho hậu thế. Người đem hết năng lực tinh thần và tri thức của đời mình để lập ngôn thì thành nhà tư tưởng, triết gia. Người đem chất liệu đời mình để viết lại thì thành tác giả tự truyện, hồi ký.
09/05/2012(Xem: 12620)
Sự xuất hiện của Tổ sư Liễu Quán (1667-1742) như là một Bồ tát bổ xứ, thực hiện sứ mệnh lịch sử: Không chỉ duy trì và phát triển mạch sống Phật giáo Việt Nam giữa bối cảnh xã hội tối tăm, Phật pháp suy đồi mà còn thể hiện sự xả thân vì đạo; lập thảo am, ăn rong, uống nước suối, hơn mười năm tham cứu công án, tu hành đắc đạo.
28/04/2012(Xem: 9370)
Nhà văn cư sĩ Huỳnh Trung Chánh, còn có bút hiệu Hư Thân, sanh năm 1939 tại Trà Vinh, quê nội của ông. Suốt quảng đời niên thiếu ông sống nơi quê ngoại tại Cao Lãnh, tỉnh Sa-Đéc, Nam Việt Nam. - Tốt nghiệp Cử nhân Luật Khoa( 1961 ), Đại Học Luật Khoa Saigon. - Tốt nghiệp Cử nhân Phật Học (1967), Phân Khoa Phật Học và Triết Học Đông Phương, Viện Đại Học Vạn Hạnh, Saigon. Là một công chức dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, ông đã nổi tiếng thanh liêm, chánh trực và hết lòng dấn thân để phục vụ đại đa số dân chúng Việt Nam theo hạnh Bồ Tát của Phật giáo. Ông đã từng giữ các chức vụ sau đây: - Lục sự tại Toà Án Saigon và Long An (1960 – 1962). - Chuyên viên nghiên cứu tại Phủ Tổng Thống (1962 – 1964). - Thanh Tra Lao Động tại Bộ Lao Động (1964 – 1965). - Dự Thẩm tại Toà Sơ Thẩm An Giang (1965 - 1966). - Chánh Án tại Toà Sơ Thẩm Kiên Giang (1966 – 1969) và Toà Án Long An (1969 – 1971). - Dân Biểu Quốc Hội VNCH tại Thị Xả Rạch Giá (1