Chuyến Đò Bến Giác.

28/01/201807:27(Xem: 7909)
Chuyến Đò Bến Giác.
Ni Truong Thich Nu Dieu Ly


Chuyến Đò Bến Giác.

Thành kính tưởng niệm:
Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Lý.
- Chứng minh Phân Ban Ni giới Trung ương
- Chứng minh Phân Ban Ni giới thành phố Đà Nẵng
- Nguyên Ủy viên thường trực Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng
- Nguyên Trưởng Phân Ban Ni giới thành phố Đà Nẵng
- Tọa chủ Chùa Quang Minh, phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, tp. Đà Nẵng.
Do niên cao lạp trưởng, Ni trưởng đã thâu thần viên tịch vào lúc 11 giờ 05 phút ngày 23 tháng 01 năm 2018 (nhằm ngày mồng 07 tháng 12 năm Đinh Dậu) tại Chùa Quang Minh, phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẳng.
Trụ thế: 97 năm, Hạ lạp: 72 năm.
(1922- 2018)
 
Chân tu phạm hạnh trang nghiêm,
An nhàn tự thị, điềm nhiên thanh bần.
Bậc tài Ni chúng xuất trần,
Tinh chuyên học pháp, phạm âm thông lầu.
Từ quê Xứ Quảng in sâu,
Nuôi tâm dưỡng trí, pháp mầu khai hoa.
Vuông tròn hạt Ngọc trong ta,
Tìm ra tánh Phật, thoát xa dục tình.
Pháp hành dung tướng uy linh,
Đệ Tam Tăng Thống, thuyết kinh âm hùng.
Dõi theo lối củ nghìn trùng,
Cố Đô Bái kiến, ngộ từng nhân duyên.
 Linh Mụ dứt mái tóc phiền,
Tham sầu khổ ái, bao niềm hư vô.
Giữa niềm Núi Ngự nhấp nhô,
Sông Hương uống khúc, chuông mơ tỉnh cầu.
Chốn Diệu Đức nguyện vung trồng,
Tam kinh luật luận, dệt tầm thiền gia.
Tánh không hiển lộ ta bà,
Tinh chuyên hầu Phật, thiên hà duyên sinh.
Quang Minh khai kiến uy linh,
Thất chúng hạnh ngộ, lời kinh vọng truyền.
Thong dong giữa cảnh an nhiên,
Phật Đài kiến tạo, chu viên Đà Thành.
Bao hàng thụ giáo âm thanh,
Đàm Đầu Ni Trưởng, viên thành giới Tâm.
Chín Mươi lẻ bẩy vững Âm,
Hồng danh trì niệm, nghiêm tầm công phu.
Một đời rong bước chân tu,
Một đời khiêm kính, nhã từ chiếu soi.
Chuyến đò bến giác trần ai,
Sư Bà nhẹ gót, liên đài Tây Phương.
Nụ cười thanh thoát lên đường, 
Bao hàng Thất chúng, tâm hương trở tìm.
Ngôi hàng chín phẩm như in,
Hạnh duyên Bái kính, nhân sinh tương Phùng.

Nam Mô Từ Lâm Tế Chánh Tông, Tứ Thập Tam Thế, Tây Thiên-Linh Mụ Pháp Phái,
trú trì Quang Minh tự, huý thượng Tâm hạ Dung, tự Diệu Lý, Ni Trưởng thùy từ chứng giám.   
Đệ tử: Tỳ kheo Thích Minh Thế
Hỷ Tâm Hải Triều
Ngày 27-1-2018- nhằm ngày 11-12- Đinh Dậu.
Thọ âm Trưởng Lão Ni Trưởng Thượng Diệu Hạ Lý trong giai đoạn 1989-1998.
Sinh thời, Sư bà đã chỉ dạy cho bài sám Quy Mạng, sám Phổ Hiền, đồng thời khuyến tấn việc tu học sau này.
Nay chúng con vọng bái giác linh đài, về Quang Minh Tự, thắp nén nhang trầm lên giác linh ân sư.

 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 9561)
Hòa Thượng Thích Thiện Trì thế danh Nguyễn Văn Hiến, Pháp danh Như Phụng, Pháp tự Thiện Trì, Pháp hiệu Ấn Ðạo thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ bốn mươi hai, Ngài sanh ngày 19 tháng 02 năm 1934 tại xã Nhơn Khánh, quận An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh. Ngài xuất thân từ một gia đình thuần túy Phật Giáo, thân phụ của Ngài là cụ ông Nguyễn Hàn, Pháp danh Như Ðà. Thân mẫu của Ngài là cụ bà Bùi Thị Thiệp, Pháp danh Như Cảnh. Ngài có tất cả 10 anh em, 5 trai và năm gái.
09/04/2013(Xem: 28297)
Để ghi lại những công –tác Hoằng-pháp và Giáo-dục trong niên-khóa vừa qua, chúng tôi đã thuyết-pháp và giảng-giải các lớp ở Ấn-Quang cho hàng Phật-Tử tại gia, cũng như tại Viện Đại Học Vạn-Hạnh cho sinh-viên Phật-khoa năm thứ IV (73-74) về môn các tác phẩm Trung-Hoa. Và cũng thể theo lời yêu cầu của đa-số Phật-tử muốn có tài-liệu để học-tập và nghiên-cứu, nên chúng tôi gom góp các bài đã biên-soạn, đúc kết thành một tập sách với nhan đề: “GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA”.
09/04/2013(Xem: 13658)
hế danh của Sư Bà cũng chính là Ðạo Hiệu hiện tại. Song Thân khó nuôi con, nên lúc 2 tuổi hai Cụ đã đem vào chùa cúng cho Sư Bà Ðàm Soạn, Trú trì chùa Cự Ðà và được Sư Cụ đặt tên là Ðàm Lựu. Phụ thân của Sư Bà là Cụ Ông Ðặng Văn Cán và Mẫu thân là Cụ Bà Nguyễn Thị Cả. Sư Bà sanh vào ngày 13 tháng 6 năm Quý Dậu, 4.811 Quốc Lịch; nhằm ngày 04 tháng 08 năm 1933 Tây lịch; tại làng Tam Xá, xã Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Ðông, Bắc Việt Nam.
09/04/2013(Xem: 9178)
Hòa Thượng Thích Như Điển, thế danh Lê Cường, Pháp tự: Giải Minh, Pháp hiệu: Trí Tâm, sinh ngày 28 tháng 6 năm 1949 tại xã Xuyên Mỹ, quận Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam. Học lực: Cử nhân giáo dục và Cao học Phật giáo tại Nhật Bản. Gia cảnh: Con út trong số 8 người con gồm 5 trai và 3 gái; Thân phụ: Ông Lê Quyên, pd: Thị Tế, Thân mẫu: Bà Hồ thị Khéo, pd: Thị Sắc. Người anh thứ bảy đã xuất gia đầu Phật năm 1958 tại chùa Non Nước, Đà Nẵng. Hiện là Hòa Thượng Thích Bảo Lạc, Hội Chủ Giáo Hội PGVNTN Hải Ngoại tại UĐL-TTL, Phương Trượng Tự Viện Pháp Bảo tại Sydney, Úc Đại Lợi.
09/04/2013(Xem: 16650)
Tuyển tập Nhạc Phật Giáo do Nhạc Sĩ Hằng Vang (1933-2021) sáng tác
09/04/2013(Xem: 12085)
Nhìn tổng quát công trình nghiên tầm, khảo cứu các văn kiện, tài liệu cổ để tập thành các tác phẩm qua các bộ môn: Lịch Sử, Văn Hóa, Văn Học, Âm Nhạc, Triết học, Thiền học... của Tiến sỹ Sử gia Lê Mạnh Thát là một thành quả to lớn được kết tinh bởi một trí tuệ siêu tuyệt, một khả năng hy hữu, một thời gian liên lũy, lâu dài, qua nhiều thập niên. Đó là những yếu tố mà ít người có được, để lưu lại cho hậu thế những thành quả văn học đồ sộ và chuẩn xác trên dòng sử mệnh quê hương.
09/04/2013(Xem: 20738)
Vua Trần Nhân Tông là một vị anh hùng dân tộc, có những đóng góp to lớn, nhiều mặt cho đất nước, cho lịch sử. Vua đã trực tiếp lãnh đạo quân và dân nước ta, tập hợp được những nhà quân sự tài giỏi, huy động được tiềm lực của toàn dân, đánh thắng đội quân hung hãn, thiện chiến nhất thời bấy giờ, làm nên những chiến công oanh liệt Hàm Tử, Chương Dương, Bạch Đằng, Tây Kết lẫy lừng, đưa dân tộc ta lên đỉnh cao của thời đại. Không những thế, vua đã mở rộng biên cương của tổ quốc, đặt nền móng vững chắc cho sự nghiệp nam tiến hoành tráng của dân tộc, mà con cháu hôm nay và mai sau mãi mãi ghi nhớ và biết ơn.
09/04/2013(Xem: 17679)
Thiền sư Minh Châu Hương Hải là một tác gia lớn không những của văn học và triết học Phật giáo Việt Nam, mà còn của văn học và lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung. Từ nửa cuối thế kỷ 18, cuộc đời và tác phẩm của Minh Châu Hương Hải đã lôi cuốn sự chú ý của những người trí thức đương thời, trong đó nổi bật nhất là nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784).
08/04/2013(Xem: 12123)
Tôi may mắn được diện kiến Người một lần duy nhất, vào năm 1990, tại Chùa Huê Lâm, Thành phố Hồ Chí Minh. Lúc ấy, tôi làm trợ lý cho thầy Thích Phước Cẩn trong việc vận động phiên dịch và ấn hành Phật Quang Đại Từ Điển. Tôi được Người ân cần khích lệ và truyền trao những kinh nghiệm quý báu về cuộc đời tu học và làm việc Phật sự của Người, trong hơn năm mươi năm qua. Lúc ấy, Người đã tròn 80 tuổi. Sức khỏe của Người còn khá tốt. Tinh thần của Người sáng suốt khác thường. Giọng nói của Người thật từ tốn, nhẹ nhàng.
08/04/2013(Xem: 10961)
Thế nhưng, cũng như chư vị Thiền Tổ khác, sử cũ Việt Nam ta không có quyển nào ghi chép rõ ràng; thậm chí một dòng bi ký cho thật chính xác khắc trên đá cứng cũng không có. Sách Đại Nam nhất thống chí (1910) chỉ ghi: “Chùa Từ Đàm: Ở trên gò ấp Bình An. Tương truyền chùa do Tử Thông Hòa thượng dựng, lại có tên chùa Ấn Tôn”. Lời ghi chép quá đơn sơ, lại có phần sai nữa. Tử Dung chứ đâu phải là Tử Thông? Những tấm bia đá dựng ở chùa Chúc Thánh - Quảng Nam, lại chỉ nói Ngài là: “Người Đại Thanh, qua An Nam, trác tích Thuận Hóa, lập chùa Ấn Tôn”.